vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Minh H về “Ly hôn”, chị Vũ Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Ngọc L.

Về con chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Phạm Ngọc L không có con chung. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Minh H về “Ly hôn”, chị Vũ Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 7 – 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Duyên.

Ông Trần Sóng Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 233/ 2022/TLST-HNGĐ ngày 25/02/2022, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Minh H, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Số 19, tổ 14, ấp 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số 29/4A, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H, anh L đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2022, bản tự khai đề ngày 10/3/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị Minh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L tự nguyện yêu thương nhau và vợ chồng đi đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 03/12/2020. Đây là hôn nhân lần đầu của chị H.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng thuê phòng trọ chung sống tại ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai tuy nhiên chưa tổ chức đám cưới theo phòng tục tập quán do hai bên gia đình có mâu thuẫn với nhau. Sau thời gian ngắn chung sống thì giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do hai vợ chồng có bất đồng trong quan điểm, lối sống. Anh L không có ý thức tạo lập kinh tế gia đình, chỉ ở nhà chơi không đi làm. Trong thời gian chung sống chị H là người phải trang trải các chi phí sinh hoạt của hai vợ chồng. Ngoài ra, anh L còn hay tụ tập bạn bè uống rượu, khi say anh L thường hay chửi mắng chị rồi đập phá nhà cửa. Chị đã nhiều lần khuyên anh L nên thay đổi nhưng anh L vẫn không khắc phục được. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vào ngày 05/12/2021 chị H bỏ về nhà cha mẹ đẻ tại xã S, huyện Đ để sinh sống. Từ đó, vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên và bạn bè nhiều lần hòa giải nhưng không khắc phục được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Ngọc L.

- Về con chung: Vợ chồng chung sống không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phạm Ngọc L vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, cả nguyên đơn, bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn không có mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Ngọc L.

+ Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu “Ly hôn”, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn”. Bị đơn anh Phạm Ngọc L hiện đang cư trú tại số 29/4A, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Minh H và anh Phạm Ngọc L tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Gia Kiệm, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/12/2020. Căn cứ các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân của chị H và anh L là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua trình bày của chị H tại tòa án cho thấy quá trình chung sống giữa vợ chồng chị H và anh L đã để xảy ra mâu thuẫn từ khoảng năm 2020 khi vợ chồng bắt đầu về sống chung được vài tháng; sau đó ly thân từ tháng 12/2021. Từ tháng 12/2021 đến nay vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc giúp đỡ và chia sẻ với nhau công việc trong gia đình.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 11/3/2022, bà Nguyễn Thị A là mẹ ruột của chị H cho biết vợ chồng chị H và anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh L nhiều lần xúc phạm danh dự nhân phẩm chị H. Bà A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh L để sớm ổn định cuộc sống.

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để giúp anh chị có cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng anh L đều vắng mặt, cả anh L và chị H đều không có ý thức hàn gắn hay có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra. Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị H và anh L đã trầm trọng, kéo dài nhưng không có hướng khắc phục, tình cảm vợ chồng không có điều kiện để hàn gắn nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hương là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Theo lời khai của chị H, vợ chồng anh chị không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí DSST: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Minh H về “Ly hôn”, chị Vũ Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Ngọc L.

2. Về con chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Phạm Ngọc L không có con chung.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Vũ Thị Minh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hương đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003543 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Minh H và anh Phạm Ngọc L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ