vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H. Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Trần Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 5 – 2022
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly
hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Minh.

2. Ông Ngô Văn Khon.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1980.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ.

Chị Phan Thị H có mặt, anh Trần Thanh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Trần Thanh H xác lập quan hệ hôn nhân năm 1998 và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ vào ngày 12/02/2010. Hôn nhân giữa chị H và anh H được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu và kết hôn.

Trong khoảng thời gian sống chung, vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, thường hay cải vả. Anh H không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, hiện nay anh H có người khác bên ngoài. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị H và anh H bắt đầu sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Khoảng thời gian sống ly thân chị H và anh H có hàn gắn tình cảm nhưng không thành.

Chị Phan Thị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh H.

Về con chung: Chị H và anh H có 03 con chung tên Trần Chí H, sinh năm 1999, Trần Chí B, sinh năm 1999 (đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Trần Hoài T, sinh ngày 20/4/2008 (Hiện đang sống chung với chị H). Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh Trần Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Trần Thanh H không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện (Bản chính); Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); Chứng minh nhân dân tên Phan Thị H (Bản sao); Sổ hộ khẩu (Bản sao); Đơn xin xác nhận nơi cư trú của người bị kiện (bản chính); Giấy khai sinh của Trần Hoài T (Bản sao); Trích lục khai sinh Trần Chí B (Bản sao); Trích lục khai sinh Trần Chí H (Bản sao); Bản khai của chị Phan Thị H ngày 24/3/2022 (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Trần Thanh H cư trú tại số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Trần Thanh H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh H.

Xét thấy, chị H và anh H xác lập quan hệ hôn nhân năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 12/02/2010, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không hòa hợp trong cuộc sống. Anh H không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, hiện nay anh H có người phụ nữ khác bên ngoài, chị H có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Ngoài ra, vợ chồng không còn sống chung từ đầu năm 2021 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân anh, chị có hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thành. Hơn nữa, chị H xác định, chị H và anh H không còn T yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không tạo điều kiện để cho nhau phát triển về mọi mặt.

Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị H và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Phan Thị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh H là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Đối với con chung tên Trần Chí H, sinh năm 1999 và Trần Chí B, sinh năm 1999 (đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết). Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoài T, sinh ngày 20/4/2008, không yêu cầu anh Trần Thanh H cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, hiện nay chị H đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Hoài T. Ngoài ra, chị H xác định hiện có việc làm ổn định, có thu nhập đảm B cho việc nuôi con. Xét thấy, kể từ khi ly thân chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T. Ngoài ra, tại bản khai ngày 24/3/2022 cháu T có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống, để đảm B cho cháu T phát triển toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần cần giao cháu Trần Hoài T cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy, chị H yêu cầu nuôi con chung tên Trần Hoài T, sinh ngày 20/4/2008 là có căn cứ chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Phan Thị H không yêu cầu anh Trần Thanh H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị H xác định là không có, không yêu cầu giải quyết. Anh Trần Thanh H không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Trần Thanh H.

- Về con chung: Con chung tên Trần Chí H, sinh năm 1999 và Trần Chí B, sinh năm 1999 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Giao con chung tên Trần Hoài T, sinh ngày 20/4/2008, cho chị Phan Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu.

Chị H và anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001414 ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Phan Thị H đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình.

Anh Trần Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ