vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hằng.

Về con chung: Giao hai cháu Đinh Thị Thùy D- Sinh ngày 27/10/2006 và Đinh Gia B - Sinh ngày 14/5/2012 cho chị Nguyễn Thị Htrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đinh Văn K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hằng.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 7 - 2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ngọc

Ông Lê Hữu Đại

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 6 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H- Sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Thôn 5, xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá

- Bị đơn: Anh Đinh Văn K - Sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Thôn 5, xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị H và anh K. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Htrình bày: Chị và anh Đinh Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/12/2005 tại UBND xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc được 12 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống và cách làm ăn cư xử trong gia đình, nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Mâu thuẫn này đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không thành. Từ đầu năm 2020 chị và anh K đã sống ly thân nhau, trong thời gian sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn K.

Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là cháu Đinh Thị Thùy D-Sinh ngày 27/10/2006 và Đinh Gia B - Sinh ngày 14/5/2012. Hiện các tại cháu đang ở với chị. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Đinh Văn K để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H, anh K đã có mặt tại Tòa án nhưng anh không chấp hành mà bỏ về khi Tòa án đang tiến hành làm việc, Tòa án đã lập biên bản về việc anh K từ chối nhận văn bản tố tụng, từ chối cung cấp bản tự khai nên trong hồ sơ không có lời khai của anh K và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh K không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hằng. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn K. Giao hai cháu Đinh Thị Thùy D- Sinh ngày 27/10/2006 và Đinh Gia B - Sinh ngày 14/5/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Hkhởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đinh Văn K. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Đinh Văn K không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh K theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh K đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh K không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh K lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh K vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh K.

Chị Nguyễn Thị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại, khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị H.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đinh Văn K có sự sai lệch về ngày tháng năm sinh. Trong giấy đăng ký kết hôn anh K sinh năm 1982, trong chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu gia đình anh K Sinh năm 1981. Tòa án đã tiến hành xác minh làm rõ có sự sai lệch như trên. Xác định anh Đinh Văn K sinh năm 1982 trong giấy đăng ký kết hôn và Đinh Văn K trong chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu là một người.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hvà anh Đinh Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/12/2005 tại UBND xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do trong cuộc sống không hợp tính nhau, dẫn đến bất đồng về quan điểm, căng thẳng kéo dài không hòa giải được, vấn đề này cũng đã được Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi chị H và anh K cư trú và đã được ủy ban nhân dân xã Lam Sơn xác nhận. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh K lên làm việc để anh K được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh K đều không có mặt, thể hiện anh không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H, anh K lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Hđược ly hôn với anh Đinh Văn K.

Về con chung: Chị H và anh K có 02 con chung là Đinh Thị Thùy D-Sinh ngày 27/10/2006 và Đinh Gia B - Sinh ngày 14/5/2012. Xét thấy, hiện tại hai cháu đang ở với chị H, cả hai con đều được chị H chăm sóc tốt, phát triển bình thường. Anh Đinh Văn K không có ý kiến đối với yêu cầu của chị H về việc giao nuôi con chung. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H, giao hai cháu Dung và Bảo cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của các cháu). Anh Đinh Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền được đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chị H đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị H xác định chị vẫn đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt nên chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hkhông yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hphải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hằng. Xử cho chị Nguyễn Thị Hđược ly hôn anh Đinh Văn K.

2. Về con chung: Giao hai cháu Đinh Thị Thùy D- Sinh ngày 27/10/2006 và Đinh Gia B - Sinh ngày 14/5/2012 cho chị Nguyễn Thị Htrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh Đinh Văn K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đinh Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hphải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000128 ngày 06/5/2022. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị H và anh K. Chị Nguyễn Thị Hvà anh Đinh Văn K được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ