vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án dụng khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Võ Thị Mỹ L: Không công nhận chị Võ Thị Mỹ L và anh Trương Quốc H là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Võ Thị Mỹ L với Trương Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Án dụng khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 16- 6- 2022
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MT- TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Long.

2. Ông Nguyễn Đinh Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Không.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: : 11/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị Mỹ L, sinh 1986. Địa chỉ: K5, TTCN, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Trương Quốc H, sinh 1983. Địa chỉ: ấp PT C, xã NP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2022, nguyên đơn Võ Thị Mỹ L trình bày:

Vào ngày 22/3/2021 chị Võ Thị Mỹ L và anh Trương Quốc H cưới nhau theo phong tục tập quán. Nhưng trước, sau và cho đến nay chị và anh không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 5/2021 thì mâu thuẫn phát sinh không khắc phục được nên mỗi người có cuộc sống riêng. Mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị L khởi kiện xin ly hôn với anh H.

Chị L và anh H không con chung.

Chị L không yêu cầu chia tài sản chung, chia nợ chung.

Anh H đã được bàn giao hợp lệ nhiều lần thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về tài sản. Nhưng anh H không tham dự các phiên họp, nên không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa, Chị L giữ nguyên yêu cầu nêu trong đơn khởi kiện ngày 18/01/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

1.1. Chị Võ Thị Mỹ L khởi kiện xin ly hôn đối với anh Trương Quốc H. Anh H có nơi cư trú tại ấp PT C, xã NP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân huyện MT xác định tranh chấp ly hôn, thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng quy định tại khoản khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham dự phiên tòa: Lần thứ nhất vào ngày 03/5/2022, lần thứ hai vào ngày 01/6/2022. Nhưng anh H không tham dự các phiên tòa, nên tiến hành xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

2.1. Hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa Chị L và anh H được xác lập sau ngày 3/01/1987, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Nên quan hệ hôn nhân giữa Chị L và anh H là không hợp pháp. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh Chị L khởi kiện xin ly hôn với anh H. Anh H đã được triệu tập tham dự phiên tòa lần thứ hai hợp lệ. Nhưng anh H vắng mặt không lý do và không ý kiến phản bác yêu cầu của Chị L nêu trong đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2022. Điều này cho thấy, anh H đã thừa nhận ý kiến và yêu cầu của Chị L nêu trong đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2022 là đúng sự thật. Chứng minh được mục đích hôn nhân giữa Chị L và anh H không thể đạt được. Chị L khởi kiện xin ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, do quan hệ hôn nhân giữa Chị L và anh H không hợp pháp, nên áp dụng khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận Chị L và anh H là vợ chồng là đúng pháp luật.

2.2.Con chung:

Không có.

2.3. Tài sản:

Chị L không yêu cầu chia tài sản chung, không yêu cầu chia nợ chung. Nên không xét.

. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Chị L nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Án dụng khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Võ Thị Mỹ L:

1. Hôn nhân:

Không công nhận chị Võ Thị Mỹ L và anh Trương Quốc H là vợ chồng.

2. Con chung:

Không có.

3. Tài sản chung, nợ chung:

Không xét.

5. Án phí hôn nhân sơ thẩm:

Buộc chị Võ Thị Mỹ L nộp 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng). Chị L được khấu trừ từ 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện MT ngày 18/01/2022, lai số 0006901. Chị L không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì nguời được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt nguyên đơn Võ Thị Mỹ L, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn Trương Quốc H vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ