- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST Ngày: 02/8/2022. V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Trần Tiến Dũng.
Ông Vũ Xuân Thụ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 02/8/2022, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 249/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/7/2022 về việc: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 8, xã Ea Ral, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày: Tôi và anh Nguyễn Thanh C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh C thường xuyên đánh đập tôi, gây ảnh hưởng đến tâm lý của các con, đây là lần thứ ba tôi nộp đơn ra tòa. Nay nhận thấy hôn nhân không thể tiếp tục nên tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh C.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có ba người con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015. Hiện các cháu đang ở với tôi, nguyện vọng của tôi là được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng ba cháu đến tuổi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung tôi và anh C sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thanh C trình bày: Tôi và cô Lê Thị Ltự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì ba năm trở lại đây phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay cô L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với tôi thì tôi đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có ba người con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015. Nay ly hôn tôi đồng ý để cô L chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba cháu đến tuổi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L; Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh C; Về con chung: Cần giao các con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh C tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Thanh C là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, nguyên đơn; bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh Ch chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2009 tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Qua lời trình bày của chị L thì chị và anh C thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C hay đánh đập chị, gây ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C; Anh C thừa nhận ba năm trở lại đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay chị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh C đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bên không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh C.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh C có ba người con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015. Xét thấy, chị L có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba cháu đến tuổi trưởng thành, cả ba cháu đều mong muốn được ở với mẹ; anh C cũng đồng ý giao các con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, cần giao các con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015 cho chị Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra để xem xét.
Anh Nguyễn Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra để xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn chị Lê Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh C.
- Về con chung: Giao các con chung là cháu Nguyễn Thị Lê Ánh T, sinh ngày 23/12/2009; cháu Nguyễn Lê Khánh B và cháu Nguyễn Lê Khánh N, sinh cùng ngày 11/7/2015 cho chị Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010509 ngày 30/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Đắk Lắk.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Viện KSND huyện Ea H’leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - UBND xã E; - UBND xã C; huyện P, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lưu Thị Ngọc Thủy |