- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L đối với ông Đặng Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2022 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Xuân Tiến
2. Bà Phạm Thị Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 119/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về việc về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1979; (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Trú tại: Số C, ấp D, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1978
Trú tại: Số F, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Bà L và ông Đ đám cưới trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào năm 2004. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn bất đồng về quan điểm, tính cách, thường hay cãi nhau, ông Đ thường hay nhâu say, cờ bạc, không chăm lo gia đình. Bà L và ông Đ đã sống ly thân từ hơn 10 năm nay. Do không còn tình cảm nên nay bà L yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn Đ. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.
Con chung: Bà L và ông Đ có 01 con chung là Đặng Quốc T, sinh ngày 29/01/2005, hiện đang sống với mẹ, bà L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ông Đặng Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải và dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký các đương sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà L và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Đ. Về con chung: bà L được nuôi 01 con chung là cháu Đặng Quốc T, sinh ngày 29/01/2005, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi chung do bà L tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung; nợ chung: Không có nên không xét đến
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Đặng Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng đến lần thứ hai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông Đ là phù hợp với Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn ông Đặng Văn Đ có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào năm 2004 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Tại biên bản làm việc ngày 28/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành với cha ruột của ông Đ là ông Đặng Văn L thể hiện: quá trình chung sống của bà L và ông Đ không hạnh phúc, ông Đ thường hay nhậu nhẹt, hai vợ chồng không sống chung với nhau hơn 10 năm nay (BL28). Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Đ vắng mặt, cho thấy ông Đ đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này. Bà L vẫn cương quyết ly hôn, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Điều đó đã chứng tỏ việc hàn gắn tình cảm cho bà L và ông Đ không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà L và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Đ là phù hợp quy định pháp luật. Bà L tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận.
Về con chung: Bà L và ông Đ có 01 con chung là cháu Đặng Quốc T, sinh ngày 29/01/2005, hiện đang sống với bà L. Xét việc giao con chung cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt về điều kiện vật chất và tinh thần, sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Bà L có công việc và thu nhập ổn định, cháu T sống chung với bà L từ nhỏ, vẫn được bà L chăm sóc, phát triển bình thường, vẫn được tạo điều kiện học tập đầy đủ. Mặc khác, tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 24/3/2022, cháu T có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn (BL27). Do đó, để đảm bảo việc phát triển đầy đủ mọi mặt, đảm bảo ổn định về mặt tâm lý và tinh thần cho cháu T nên giao cháu T cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà L nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có nên không xét đến.
Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L đối với ông Đặng Văn Đ. Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Đặng Văn Đ. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim L và ông Đặng Văn Đ chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim L được tiếp tục nuôi 01 con chung là cháu Đặng Quốc T, sinh ngày 29/01/2005. Ông Đặng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Kim L tự nguyện không yêu cầu.
Ông Đặng Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên cha mẹ, cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà L khai không có nên không xét đến.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0006280 ngày 09/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - UBND xã T; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Minh Hiền |