- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí To…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HSST Ngày: 19 –11 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Thị
2. Bà Lê Thị Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2021/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST – HS, ngày 08/11/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ
Sinh ngày 04 tháng 11 năm 1989, tại xã VĐ, huyện TT, thành phố N; nơi cư trú: Thôn ĐX, xã VĐ, huyện TT, thành phố N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông: Nguyễn Văn K(Đã chết); con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1968; chồng: Lê Anh Q, sinh năm 1986; con: có 01 đứa sinh năm 2018. Hiện chồng và con cư trú tại thôn L, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
Chị Thiều Thị B– sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn HB, xã P, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Cán bộ quỹ tín dụng (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thanh C– sinh năm 1947; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Hưu trí (Có mặt)
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Anh Lê Anh Q – sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình sinh sống tại thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị H vay nợ một số người với số tiền khoảng 150.000.000 đồng để chi tiêu và trang trải cuộc sống. Đến khoảng tháng 4/2021, do tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát nên Nguyễn Thị H cùng chồng và con về sinh sống tại nhà bố mẹ chồng ở thôn L, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Cách ngày bị bắt khoảng 03 ngày, Nguyễn Thị H bị các chủ nợ liên tục gọi điện đòi nợ, nên H nảy sinh ý định đi đến quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBT(ở thôn HT, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) để dùng dao đe dọa cán bộ quỹ tín dụng cướp tiền về trả nợ. Khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Thị H lấy 01 con dao dài 19,5 cm (loại dao thường dùng gọt H quả) cất dấu vào túi áo rồi đeo găng tay, đội mũ có tấm vải trùm đầu che kín mặt và cổ rồi đi bộ một mình từ nhà của bố mẹ chồng đến quỹ tín dụng liên xã PBT. Đến 07 giờ 05 phút cùng ngày, khi đi đến trụ sở quỹ tín dụng, H thấy phòng làm việc của chị Thiều Thị B(sinh năm 1989, trú tại thôn HB, xã P, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, là nhân viên của quỹ tín dụng) mở cửa nên đi vào. Khi vào phòng, thấy trong phòng chỉ có một mình chị B đang ngồi ở bàn làm việc, Nguyễn Thị H liền lấy con dao đã chuẫn bị sẵn từ trước ở túi áo ra cầm ở tay phải rồi tiến đến vị trí của chị Ba, dùng tay trái giữ tay phải của chị Ba, còn tay phải cầm dao dí vào sát người của chị Ba. Do nghĩ có người quen đang trêu đùa, nên chị Thiều Thị Bdùng tay đẩy Nguyễn Thị H ra, nhưng H vẫn lao vào giữ tay, dí dao về phía chị Ba và chỉ tay về phía két sắt. Thấy vậy, chị Thiều Thị Bnói “mở két à, mở két à”, nhưng H không nói gì mà tiếp tục dí dao sát vào người chị Ba, đồng thời hai tay liên tục chỉ về phía két sắt yêu cầu chị Ba mở két lấy tiền đưa cho H. Quá trình Nguyễn Thị H buông tay chị Ba để chỉ về hướng có két sắt, thì chị Thiều Thị Bđứng dậy dùng tay phải cầm giữ tay cầm dao của H và giằng co, xô đẩy H về phía góc tường gần cửa phòng, sau đó đẩy H vào phòng rồi chạy thoát ra ngoài khóa cửa lại và đến trình báo Công an xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Nhận được thông tin, lực lượng Công an xã Kỳ Bắc kịp thời có mặt tại hiện trường khống chế, bắt giữ Nguyễn Thị H và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các đồ vật có liên quan.
Vật chứng thu giữ, xử lý:
- 01 con dao dài 19,5 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 8,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11 cm, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng;
- 01 đôi găng tay bằng vải, có in chữ nước ngoài, mặt trước được phủ một lớp cao su màu xanh;
- 01 mũ vải nhiều H văn màu sắc sặc sỡ, phía trước có lưỡi trai, có gắn tấm vải che mặt và cổ, phía dưới có dính chất bẩn màu đỏ;
Số vật chứng nêu trên thu giữ tại Nguyễn Thị H, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn video do quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBTcung cấp, đã được niêm phong, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT- VKSKA ngày 29 tháng 9 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/8/2021.
Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 19,5 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 8,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11 cm, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay bằng vải, có in chữ nước ngoài, mặt trước được phủ một lớp cao su màu xanh; 01 mũ vải nhiều H văn màu sắc sặc sỡ, phía trước có lưỡi trai, có gắn tấm vải che mặt và cổ, phía dưới có dính chất bẩn màu đỏ. Còn 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn video do quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBTcung cấp lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, buộc Nguyễn Thị H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do cần tiền để trả nợ nên vào lúc 07 giờ 05 phút ngày 03/8/2021, tại phòng làm việc của quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBT(thuộc thôn HT, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh), Nguyễn Thị H đã có hành vi dùng tay trái giữ tay phải của chị Thiều Thị Blà nhân viên của quỹ tín dụng, còn tay phải cầm dao (là phương tiện nguy hiểm) liên tục dí sát vào người chị Thiều Thị Bvà yêu cầu chị Ba mở két sắt đưa tiền cho H để chiếm đoạt. Khi Nguyễn Thị H đang thực hiện hành vi thì bị chị Thiều Thị Bphản kháng, chống trả, sau đó nhốt giữ H tại phòng làm việc của mình và kịp thời trình báo Công an xã Kỳ Bắc đến khống chế, bắt giữ.
Hành vi của Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao đe doạ bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là dùng phương tiện nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị H được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng sau: 01 con dao dài 19,5 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 8,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11 cm, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay bằng vải, có in chữ nước ngoài, mặt trước được phủ một lớp cao su màu xanh; 01 mũ vải nhiều H văn màu sắc sặc sỡ, phía trước có lưỡi trai, có gắn tấm vải che mặt và cổ, phía dưới có dính chất bẩn màu đỏ. Hội đồng xét xử xét thấy các vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, hiện nay không có giá trị sử dụng, đối với 01 con dao dài 19,5 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 8,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11 cm, mũi dao nhọn là của gia đình ông Lê Thanh Cbị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội mà ông chỉnh không biết và hiện nay ông Chỉnh từ chối nhận lại con dao nói trên, vì vậy tịch thu tiêu huỷ tất cả các vật chứng nói trên, theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Còn 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn video do quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBTcung cấp lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà bị hại Thiều Thị Bkhông yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H phạm tội “Cướp tài sản”
Xử phạt Nguyễn Thị H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 19,5 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 8,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11 cm, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay bằng vải, có in chữ nước ngoài, mặt trước được phủ một lớp cao su màu xanh; 01 mũ vải nhiều H văn màu sắc sặc sỡ, phía trước có lưỡi trai, có gắn tấm vải che mặt và cổ, phía dưới có dính chất bẩn màu đỏ.
Còn 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn video do quỹ tín dụng nhân dân liên xã PBTcung cấp lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Về án phí: Xử buộc Nguyễn Thị H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT; -VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC10; - Sở Tư pháp; - CA huyện Kỳ Anh; - VKSND huyện Kỳ Anh; - THA dân sự; - THA hình sự; - Những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |