- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ văn S- trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Kho n 1 Điều 173; các điểm i, s kho n 1 và kho n 2 Điều 51; điểm o kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG B n án số: 46/2021/HS-ST Ngày 03 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngũ Minh Luận;
Bà Nguyễn Ngọc Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa 13/2021/HSST-QĐ ngày 04/02/2021 đối với bị cáo:
Vũ Văn S, sinh năm 1990 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Thôn 7, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn S và bà Phạm Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Minh Ú, sinh năm 1989, nơi cƣ trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: 112/27/2 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Kho ng 00 giờ 10 phút, ngày 20/6/2020 sau khi đ uống rƣợu, ông Lê Minh
điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha – Exciter màu đen, biển số 36B4 – 047.71 lƣu thông đến đoạn đƣờng trƣớc Công ty Laser thuộc khu phố Đồng An 3, phƣờng Bình Hoà, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp trời mƣa. Lúc này, ông dựng xe ngay sát lề đƣờng và để chìa khoá trên xe rồi đi vào bên trong ống cống của công trình đang thi công cống thoát nƣớc để trú mƣa, sau đó ông đ n m ngủ quên tại đây. Vào thời điểm này, Vũ Văn S và Vũ Văn T nơi cƣ trú: p Thọ Lâm 2, x Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đang đi bộ t hƣớng ng tƣ 550 về hƣớng Bệnh viện Quân đoàn 4. Khi đi đến trƣớc Công ty Laser thì lúc này Sáng phát hiện chiếc xe mô tô biển số 36B4 – 047.71 của ông Lê Minh đang để sát lề đƣờng, có cắm sẵn chìa khóa và không có ngƣời trông coi nên n y sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. S rủ T l y xe này về đem bán l y tiền tiêu xài thì T đồng ý. S đi đến ngồi lên chiếc xe mô tô biển số 36B4 – 047.71 n máy chở T ngồi ph a sau điều khiển xe chạy đến địa bàn phƣờng Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tìm ngƣời tiêu thụ xe thì bị Công an phƣờng Long Bình Tân tu n tra phát hiện có d u hiệu nghi v n nên mời về trụ sở Công an phƣờng để làm việc. Tại đây, S và T đ th a nhận hành vi phạm tội trộm cắp xe mô tô nói trên. Công an phƣờng Long Bình Tân đ lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan CSĐT Công thành phố Biên Hoà tiếp nhận xử lý.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Công an thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đ làm việc với các đối tƣợng, xác định địa điểm mà S và T trộm cắp xe mô tô trên tại địa bàn phƣờng phƣờng Bình Hoà, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, sau đó chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền.
Biên b n định giá tài s n và B n kết luận định giá tài s n ngày 26/6/2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 xe mô tô nh n hiệu Yamaha – Exciter màu đen xám, biển số 36B4 – 047.71 có giá trị là 24.000.000 đồng.
Cáo trạng số 31/CT-VKS-TA ngày 11/01/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đ truy tố bị cáo Vũ Văn S về tội Trộm cắp tài s n theo quy định tại kho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ b n cáo trạng đ truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo xúi dục ngƣời dƣới 18 tu i phạm tội; về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội l n đ u, thuộc trƣớng hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i; tài s n đ thu hồi giao tr cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình gi m nhẹ theo quy định tại điểm i, s kho n 1 và kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo S mức án t 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề nghị đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, bị cáo đ ăn năn hối c i và xin đƣợc gi m nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và x hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn S đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ b n cáo trạng đ truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài s n đ chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Kho ng 00 giờ 10 phút, ngày 20/6/2020, tại trƣớc c ng Công ty Laser thuộc khu phố Đồng An 3, phƣờng Bình Hoà, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi th y xe mô tô hiệu Yamaha – Exciter màu đen, biển số 36B4 – 047.71 trị giá 24.000.000 đồng của ông Lê Minh để trên lề đƣờng không có ngƣời trông coi, bị cáo Vũ Văn S và đối tƣợng Vũ Văn T đ lén lút chiếm đoạt và điều khiển xe chạy đến địa bàn phƣờng Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phƣờng Long Bình Tân tu n tra phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo đ thực hiện đủ yếu tố c u thành tội Trộm cắp tài s n theo quy định tại kho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài s n theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đ thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n của ngƣời khác đƣợc pháp luật b o vệ, gây m t trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài s n của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị tr ng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đ cố ý phạm tội. Do đó khi quyết định hình phạt cũng c n xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với t nh ch t, mức độ, hậu qu phạm tội đ thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi xúi dục Vũ Văn T, sinh ngày 14/3/2004 là ngƣời chƣa đủ 18 tu i là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm o kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội l n đ u và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i; tài s n đ thu hồi giao tr cho chủ sở hữu nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s kho n 1 và kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với Vũ Văn T là ngƣời cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh tại nơi cƣ trú xác định đƣợc Vũ Văn T đ bỏ trốn, hiện chƣa xác định đƣợc nơi cƣ trú, Cơ quan C nh sát điều tra đ ra quyết định truy n bị can nhƣng chƣa bắt đƣợc bị can nên đ ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can Vũ Văn T khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý ở vụ án khác.
Về trách nhiệm dân sự: Tài s n chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Yamaha – Exciter màu đen, biển số 36B4 – 047.71 đ đƣợc tghu hồi tr cho chủ sở hữu, bị hai không yêu c u bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo ph i chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Kho n 1 Điều 173; các điểm i, s kho n 1 và kho n 2 Điều 51; điểm o kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án ph và lệ ph Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn S phạm tội Trộm cắp tài s n.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày 20/6/2020.
2. Về án ph : Bị cáo Vũ Văn S ph i chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |