- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phạm Thái L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HS-ST Ngày: 09-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cầm Văn Nam.
2. Bà Võ Thị Minh Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đinh Duy Toàn - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2021/QĐXXST-HS ngày ngày 30 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phạm Thái L, sinh ngày 02/02/1999 tại Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964 và con bà Phạm Thị L1, sinh năm 1968 cả hai hiện cư trú tại: Thôn T, xã C, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm: 1988, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ: Lê Thanh Thảo V, sinh năm 1999 (đã ly hôn), con: 01 con tên Nguyễn Lê Thái Bảo, sinh năm 2019 hiện đang ở với mẹ tại phường L, thành phố B; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bảo Lộc từ ngày 18/12/2020 cho đến nay. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Huỳnh Thị Như N, sinh năm: 2002; nơi cư trú: Phòng trọ số 7, dãy trọ hẻm 24, đường H, phường S, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 18/12/2020, Nguyễn Phạm Thái L mua 04 gói nilon bên trong có chứa ma túy đá từ một người tên Mùi (chưa xác định được nhân thân lai lịch) với giá 2.500.000đ. Sau đó, L cất số ma túy nói trên vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc trên người rồi đến phòng trọ số 07, dãy nhà trọ của ông Phùng Việt Hải, ở hẻm 24 Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc để chơi với bạn gái là chị Huỳnh Thị Như N. Đến 17 giờ 00 phút ngày 18/12/2020 Công an phường Lộc Sơn phối hợp với Đội ma túy Công an thành phố Bảo Lộc đến để kiểm tra phòng trọ nói trên thì phát hiện trong túi áo khoác trước bên phải mà L đang mặc trên người có 04 gói nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất tinh thể rắn màu trắng gồm: 01 gói nilon màu trắng được hàn kín xung quanh, kích thước 04cm x 05cm, 03 gói nilon màu trắng có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 02cm x 02cm mỗi gói. Theo L khai nhận thì bên trong 04 gói nilon nói trên đều là ma túy đá của L cất giữ trong túi áo khoác để sử dụng. Sau đó, cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Phạm Thái L về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ số tang vật nói trên.
Tại kết luận giám định số 2165 ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,6956g loại Methamphetamine.
Về tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc đã tạm giữ: 02 phong bì niêm phong số 2165/2020-PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng sau khi giám định; 01 áo khoác dù màu vàng, có 01 túi trước bên phải và 01 túi trước bên trái.
Cáo trạng số 58/CT-VKSBL ngày 25/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố Nguyễn Phạm Thái L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Thái L từ 30 đến 36 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 2165/2020-PC09 và 01 áo khoác dù màu vàng có một túi trước bên phải, một túi trước bên trái.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận vào ngày 18/12/2020 tại Phòng trọ số 7, dãy trọ hẻm 24, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,695g ma túy, loại Methamphetamine; nguồn gốc số ma túy nêu trên là do bị cáo mua của đối tượng tên Mùi (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 2.500.000đ vào chiều ngày 18/12/2020 tại khu vực trước nhà thờ Thánh Mẫu, phường Lộc Phát với mục đích để sử dụng cho bản thân như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận: Vào chiều ngày 18/12/2020 tại phòng trọ số 7, dãy trọ hẻm 24, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, Nguyễn Phạm Thái L đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói ma túy có tổng trọng lượng 4,695g (Bốn phẩy sáu chín lăm gam), loại Methamphetamine; nguồn gốc số ma túy nêu trên là do bị cáo mua của đối tượng tên Mùi (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 2.500.000đ vào chiều ngày 18/12/2020 tại khu vực trước nhà thờ Thánh Mẫu, phường Lộc Phát với mục đích để sử dụng cho bản thân. Methamphetamine là chất nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân và cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nhưng vì nhu cầu cho cá nhân nên bị cáo mua về tàng trữ để sử dụng. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc và nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 2165/2020-PC09 cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với và 01 áo khoác dù màu vàng có một túi trước bên phải, một túi trước bên trái là công cụ mà bị cáo dùng để cất giấu ma túy; xét giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng tên Mùi đã bán ma túy cho bị cáo L, hiện chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra xử lý sau là đúng.
- Đối với chị Huỳnh Thị Như N là người có mặt tại thời điểm Công an đến kiểm tra phòng số 7, dãy trọ hẻm 24, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, bắt quả tang bị cáo L tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, chị N không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự với chị N là đúng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Thái L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2020.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 2165/2020-PC09 và 01 áo khoác dù màu vàng có một túi trước bên phải, một túi trước bên trái.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Phạm Thái L phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (1);
- VKSND TP. Bảo Lộc (1);
- Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1);
(Đã ký)
- Công an TP. Bảo Lộc (1);
- Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1);
- Bị cáo (1);
- Lưu hồ sơ.
Ninh Khắc Phong THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ninh Khắc Phong
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1); - VKSND TP. Bảo Lộc (1); - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1); - Công an TP. Bảo Lộc (1); - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1); - Bị cáo (1); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |