- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị H phạm tội “ Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Bùi Thị H phạm tội “ Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HS-ST Ngày: 09/03/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hường
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Bình
Bà Lê Thị Thanh Huấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Lan, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 03 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị H, sinh ngày 18/5/1989 tại Hải Dương; Giới tính: Nữ; HKTT: Thôn BD, xã HP, Ninh Giang, Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn X (đã chết) và bà: Vũ Thị N (đã chết); Chồng: Vũ Duy C (đã ly hôn);
Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 27/12/2018 TAND quận Thanh Xuân xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 08/10/2019 (chưa xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 29/11/2020.
Tạm giam ngày 08/12/2020.
Hiện đang tạm giam tại trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Trần Thị Hải V, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Cư trú tại: P2209A chung cư 82 NT, pH Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, Bùi Thị H biết chị Trần Thị Hải V có nhu cầu thuê người giúp việc nên H đã liên hệ với chị V để làm giúp việc. Chị V đồng ý và để H làm thử 01đến 02 ngày, nếu được sẽ thuê dài hạn. Khoảng 08 giờ 30’ ngày 29/11/2020, H bắt đầu làm giúp việc cho nhà chị V tại phòng 2209A chung cư 82 NT, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ 30’ cùng ngày, H đi vào bên trong phòng làm việc nhà chị V và phát hiện thấy chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Air 2 màu xám 64GB, Imei: 355890065733938 của gia đình chị V để trên mặt bàn máy tính. Do thấy chị V và người nhà chị V đều đã nghỉ trưa nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc máy tính trên. H dùng tay trộm cắp chiếc Ipad và cất giấu vào cạp quần phía trước bụng rồi phủ áo ra bên ngoài. Sau đó H đi ra khỏi phòng làm việc và lén lút ra khỏi nhà chị V để tẩu thoát. Ngay lúc này chị V phát hiện bắt quả tang hành vi trộm cắp tài sản của H và trình báo cơ quan Công an.
Tại cơ quan điều tra Bùi Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản của mình như trên.
Công an thu giữ của Bùi Thị H: 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Air 2 màu xám 64GB, Imei: 355890065733938 (đã qua sử dụng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 483/KLĐG ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Xuân kết luận: 01 chiếc Apple Ipad Air 2 màu xám loại 64GB, Imei: 355890065733938, đã qua sử dụng, có giá trị 5.600.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Xuân đã trao trả cho chị Trần Thị Hải V chiếc máy tính trên. Chị V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSTX ngày 29/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố Bùi Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Bùi Thị H khai nhận tội như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại phiên toà Bùi Thị H đã khai nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố là đúng người, đúng tội. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được và có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ 30’ ngày 29/11/2020, H bắt đầu làm giúp việc cho nhà chị V tại phòng 2209A chung cư 82 NT, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ 30’ cùng ngày, H có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Air 2 màu xám 64GB, Imei: 355890065733938 trị giá 5.600.000 đồng của chị Trần Thị Hải V tại phòng 2209A chung cư 82 NT, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Hành vi của bị cáo Bùi Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 và được sửa đổi bổ sung năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi: Xét tính chất mức độ của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, bản thân bị cáo có sức khoẻ, đáng lẽ phải làm ăn lương thiện, song bị cáo đã coi thường pháp luật, muốn hưởng lợi bất chính bằng tài sản của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần xét xử bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự
Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” bị Toà án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 12 tháng tù. Ra trại ngày 8/10/2019 (chưa xoá án)
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi của bị cáo là sai, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài hình phạt chính, do công việc của bị cáo không ổn định nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về những vấn đề khác:
Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Air 2 màu xám 64GB, Imei: 355890065733938 cho chị Trần Thị Hải V, chị Trần Thị Hải V đã nhận lại chiếc máy tính trên và không có đề nghị gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra và phiên toà người bị hại là chị Trần Thị Hải V không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Hải V về việc không yêu cầu bị cáo bồi thường.
* Về hình phạt bổ sung: Không.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Bùi Thị H phạm tội “ Trộm cắp tài sản".
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3. Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 29/11/2020 (ngày bắt quả tang).
4. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Hải V về việc không yêu cầu bị cáo bồi thường.
5. Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mục án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:
Bị cáo Bùi Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Thanh Xuân; - Công an quận Thanh Xuân; - THADS quận Thanh Xuân ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP và hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 15 giờ 00 ngày 09 tháng 03 năm 2021; Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hường - Các Hội thẩm nhân dân: 02 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo: HKTT: Thôn Bồ Dương, xã Hồng Phong, Ninh Giang, Hải Dương Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1. Tuyên bố Bùi Thị H phạm tội “ Trộm cắp tài sản". Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. 3. Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. - Biểu quyết: 3/3 ý kiến 3. Về trách nhiệm dân sự: cáo bồi tH. - Biểu quyết: 3/3 ý kiến 5. Án phí và quyền kháng cáo: 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mục án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: hình sự sơ thẩm. quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án sơ thẩm - Biểu quyết: 3/3 ý kiến mọi người nhất trí ký tên. CÁC THÀNH VIÊN HĐXX HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Hường CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Ông Phạm Văn Bình Bà Lê Thị Thanh Huấn Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2021/TLST-HS ngày Họ và tên: Bùi Thị H, sinh ngày 18/5/1989 tại Hải Dương; Giới tính: Nữ; Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đó được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 29/11/2020 (ngày bắt quả tang). Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Hải V về việc không yêu cầu bị Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm Bị cáo Bùi Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến Biên bản kết thúc vào hồi 15 giờ 10 phút cùng ngày, nội dung đã được THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN |