- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: bị cáo Vàng A M phạm t i: “Tr m cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? luật Tố tụng hình sự và Nghị; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HS-ST Ngày 28 tháng 9 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và ông Vàng A Măng.
Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Binh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo: Vàng A M, tên gọi khác: không; sinh năm: 1992; nơi sinh: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư tr : bản N Ph, xã C C, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: ao đ ng tự do; Trình đ văn hóa: 9/12; Dân t c: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt am; Con ông Vàng A C và con bà Vàng Thị Th; vợ: Tẩn Thị Nh, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST, ngày 22/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ căn cứ khoản 1 Điều 25 B luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo khoản 1, Điều 194 B luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/6/2021 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, có mặt.
* Bị hại:
1. Ông ò Văn H, sinh năm 1977; trú tại: bản TT, xã N T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
2. Ông Tẩn A Đ, sinh năm 1994, trú tại: bản N Ch, xã N Ch, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
* gười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. ò Văn Ph, sinh năm 2004,trú tại: bản T T, xã N T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
2. Ông Hoàng Ý g, sinh năm 1996,trú tại: bản S H V, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
3. Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1995, trú tại: bản C H, xã L Th, huyện S H, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
* gười đại diện hợp pháp cho ò Văn Ph là ông ò Văn H, sinh năm 1977, trú tại: bản TT, xã NT, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
* gười bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý hà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 09/6/2021, Vàng A M sinh năm 1992 tr tại bản N Ph xã C C huyện Sìn Hồ tỉnh ai Châu đi b từ xã Nậm Mạ huyện Sìn Hồ đến xã Phăng Sô Lin huyện Sìn Hồ, mục đích tìm mua ma t y để sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đi qua khu vực bản Tà Tủ, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ thì Mạch nhìn thấy có nhiều xe mô tô dựng ở bãi đất trống ven đường, không có người trông giữ. Vàng A M lại gần thì thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen – bạc, biển kiểm soát 25F3-4283 của anh ò Văn H sinh năm 1977, trú tại bản T T xã Nậm Tăm huyện Sìn Hồ vẫn đang cắm chìa khóa xe trên ổ khóa nên nảy sinh ý định tr m cắp chiếc xe này. Vàng Văn M dắt chiếc đi khoảng 08m ra phía ngoài đường, mở khóa, đề nổ máy rồi điều khiển đến bản Nậm Lúc, xã Phăng Sô in, huyện Sìn Hồ tìm nơi tiêu thụ.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, M đến bản Nậm Lúc (không rõ bản Nậm Lúc 1 hay Nậm Lúc 2) rồi đi vào lán nương của anh Hoàng Ý Ng sinh năm 1996, tr tại bản S H V , thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, thấy anh N đang ở trong lán Mạch hỏi anh Ngan có mua xe không, anh Ng nói có và xem xe sau đó hỏi giá bao nhiêu, Mạch trả lời là giá 3.000.000 đồng, anh Ngan hỏi tiếp xe có giấy tờ không, M bảo xe có giấy tờ nhưng bị Cảnh sát Giao thông thu rồi và cam kết với anh Ng là xe của mình, anh Ng trả giá 2.000.000 đồng, M nhất trí. Vàng Văn M viết giấy tờ mua bán xe, để tránh bị phát hiện, Mạch lấy tên là Lý A L , nhà ở xã N Ch huyện Sìn Hồ rồi ký và giao giấy bán cùng xe mô tô cho anh Ng , lấy số tiền 2.000.000 đồng, mang đi mua ma t y để sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 15 giờ ngày 09/6/2021, anh ò Văn H phát hiện bị mất chiếc xe mô tô. Ngày 10/6/2021, anh H đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ. Sau khi nhận đơn trình báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ đã tiến hành xác minh và Thông báo truy tìm chiếc xe nêu trên. Đến ngày 12/6/2021, anh Hoàng Ý Ng đã tự nguyện đem chiếc xe mô tô cùng giấy mua bán xe đến giao n p cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 15/6/2021 của H i đồng định giá tài sản huyện Sìn Hồ kết luận: “01 (m t) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRUS màu đen, bạc, mua từ năm 2007, cũ, qua sử dụng có giá 2.200.000 đồng”.
Tại Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS-SH ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh ai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh ai Châu để xét xử bị cáo Vàng A M về t i: “Tr m cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm t i như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh ai Châu đã truy tố, không oan, không sai.
Kiểm sát viên đề nghị H i đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng A M phạm t i “Tr m cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: đề nghị H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 B luật Hình sự; Về vật chứng: Đối 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 25F3-4283 bị cáo đã tr m cắp của anh ò Văn H , quá trình điều tra ngày 04/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho anh ò Văn H là đ ng quy định của pháp luât; 01 giấy mua bán xe do Vàng A M viết được đính kèm hồ sơ vụ án không đề nghị giải quyết; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ò Văn H , Tẩn A Đ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn Th , ò Văn Ph đều không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị H i đồng xét xử không xem xét giải quyết; Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ý Ngan yêu cầu bị cáo Vàng A M hoàn trả số tiền mua chiếc xe mô tô là 2.000.000 đồng, bị cáo đồng ý, nên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng Điều 48 B luật Hình sự, Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 B luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và anh Ng , bu c bị cáo phải bồi thường 2.000.000 đồng cho anh Hoàng Ý Ng .
gười bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm t i của mình; gia đình bị cáo là h nghèo, bị cáo là người dân t c thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã h i đặc biệt khó khăn, sự hiểu biết pháp luật của bị cáo còn có nhiều hạn chế nên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về hình phạt bổ sung: đề nghị H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 B luật Hình sự; về trách nhiệm dân sự: gười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ý Ngan yêu cầu bị cáo Vàng A M hoàn trả số tiền mua chiếc xe mô tô là 2.000.000 đồng, bị cáo đồng ý, nên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 B luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và anh Ngan, bu c bị cáo phải bồi thường 2.000.000 đồng cho anh Hoàng Ý N ; về án phí: Đề nghị H i đồng xét xử căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 để miễn án phí hình sự cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thu c trường hợp người dân t c thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã h i khó khăn và theo quyết định 861/QĐ-TTg của Thủ tưởng chính phủ quy định về vùng miền khó khăn giai đoạn 2021-2025.
Bị hại ò Văn H , Tẩn A Đ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn Th , ò Văn Ph có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và đều không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên H i đồng xét xử không xem xét giải quyết.
gười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ý Ng , có mặt tại phiên tòa yêu cầu bị cáo Vàng A M hoàn trả số tiền mua chiếc xe mô tô là 2.000.000 đồng, bị cáo nhất trí trả lại số tiền anh Ngan mua chiếc xe mô tô là 2.000.000 đồng. Anh Hoàng Ý Ng đề nghị H i đồng xét xử, công nhận sự thỏa thuận của anh và bị cáo, theo biên bản thỏa thuận lập vào h i 09 giờ 00 phút ngày 02/8/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên đã thực hiện đ ng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của B luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đ ng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của B luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đ ng trình tự, thủ tục do B luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Vàng A M đã khai nhận hành vi phạm t i của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đ ng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. H i đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 09/6/2021, tại bản T T xã N T huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu, Vàng A M đã thực hiện hành vi tr m cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 25F3-4283 trị giá 2.200.000 đồng của anh Lò Văn H rồi mang đến khu vực bản Nậm c xã Phăng Xô in huyện Sìn Hồ, nói là xe của mình rồi bán cho anh Hoàng Ý Ng lấy số tiền 2.000.000 đồng, mang đi tiêu sài hết.
Hành vi của bị cáo Vàng A M là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác m t cách bất hợp pháp, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm Hình sự, nhận thức được hành vi tr m cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham hưởng thụ, không chịu lao đ ng sản xuất. Bị cáo với thủ đoạn lợi dụng có nhiều xe mô tô dựng ở bãi đất trống ven đường, trong thời gian không có người trông giữ và sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, bị cáo Vàng A M đã tr m cắp m t chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen- bạc, biển kiểm soát 25F3-4283 trị giá 2.200.000 đồng của anh ò Văn H . Sau khi tr m cắp được chiếc xe máy nêu trên M bán cho anh Hoàng Ý Ng để lấy số tiền 2.000.000 đồng, mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã đủ yếu tố cấu thành t i “Tr m cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, lời luận t i của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự, đề nghị H i đồng xét xử, xử phạt bị cáo Vàng A M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù là hoàn toàn có căn cứ, đ ng người, đ ng t i, đ ng pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa về t i danh, trách nhiệm dân sự, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Vàng A M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST, ngày 22/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ căn cứ khoản 1 Điều 25 B luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo khoản 1, Điều 194 B luật hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình; Bị cáo là người dân t c thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã h i đặc biệt khó khăn. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ò Văn H , đều không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên H i đồng xét xử không xem xét giải quyết; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ý Ngan yêu cầu bị cáo Vàng A M hoàn trả số tiền, anh Ng mua chiếc xe mô tô là 2.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên H i đồng công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và anh Ng , bu c bị cáo phải bồi thường 2.000.000 đồng cho anh Ng .
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, nên H i đồng x t xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 B luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 25F3-4283 bị cáo đã tr m cắp của anh ò Văn H , quá trình điều tra ngày 04/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho anh ò Văn H là đ ng quy định pháp luật nên H i đồng xét xử không xem xét giải quyết; 01 giấy mua bán xe do Vàng A M viết được đính kèm lưu hồ sơ vụ án nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo Vàng A M là người dân t c thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã h i đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại Điều 135 và Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của B luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 9 năm 2021); gười bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gười đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư tr và những người liên quan:
Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương xã Căn Co, huyện Sìn Hồ, tỉnh ai Châu nơi bị cáo Vàng A M đang cư tr cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn xác định, ngày 10/6/2021, tại bản Nậm Kinh xã Nậm Tăm, Vàng A M đã tr m cắp của anh Tẩn A Đ , sinh năm 1994 trú tại bản Nậm Chăng xã ậm Cha huyện Sìn Hồ 01 chiếc điện thoại di đ ng nhãn hiệu Vsmart Star 3 trị giá 816.000 đồng. Hành vi tr m cắp này của Vàng A M không đủ yếu tố cấu thành t i phạm nên Công an huyện Sìn Hồ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M .
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Vàng A M còn khai nhận, ngày 07/6/2021, tại xã Huổi Só, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Mạch đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 02 chiếc xe mô tô của anh Vàng A Th sinh năm 1977 và chị Sình Thị Th , sinh năm 1994 đều trú tại xã H S , huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tiếp nhận để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với anh Hoàng Ý Ng có hành vi mua chiếc xe mô tô do Vàng A M tr m cắp mà có. Quá trình điều tra xác định anh Ngan không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô này. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Hoàng Ý Ng là có căn cứ.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng do bán chiếc xe mô tô tr m cắp được mà có, Vàng A M khai đã mang đi mua ma t y của m t người không rõ lai lịch và tiêu sài cá nhân hết, không thu giữ được. Số ma túy Vàng A M đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng, loại ma t y, người đã bán ma t y cho Vàng A M nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của B luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố: bị cáo Vàng A M phạm t i: “Tr m cắp tài sản”.
2.Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vàng A M : 01 (m t) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 15/6/2021.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về Xử lý vật chứng: Không.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 B luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 B luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và anh Hoàng Ý Ngan, bu c bị cáo phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho anh Hoàng Ý Ng .
5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 9 năm 2021); gười bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gười đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - CQCSĐT CA huyện Sìn Hồ; - CQTHAHS CA huyện Sìn Hồ; - Nhà tạm giữ CA huyện Sìn Hồ; - CCTHADS huyện Sìn Hồ; - gười có NCQLNVLQ; - gười bào chữa; - Bị hại, gười đại diện hợp pháp; - Bị cáo; ưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan H n N o n |