- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Xuân Q + ĐP phạm tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HS-ST Ngày 18/6/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Mạnh Hùng.
2. Ông Hà Đức Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 05/5/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 08/6/2021 đối với các bị cáo:
1. ĐÀO XUÂN Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 03/9/1998 tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; đảng, đoàn thể: Không; con ông Đào Quang M, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1977; anh, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ, con: Chưa có;
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2021 đến ngày 14/01/2021, hiện đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. PHẠM VĂN KH, tên gọi khác: Không, sinh ngày 11/4/1989 tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT: thôn Kh, xã H, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở hiện nay: Thôn Kh, xã Y, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1969; anh, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ Hứa Thị T, sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2017.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 11/01/2021 đến ngày 14/01/2021, hiện đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đào Quang M, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 11/01/2021 Phạm Văn Kh sinh năm 1989, trú tại Thôn Kh, xã Y, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (là lái xe thuê cho ông Đào Quang M, trú tại thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 22C-05931 (xe của ông M) cùng Đào Xuân Q sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (Q là con đẻ của ông M) đi giao trâu tại mốc số 690 thuộc xã Tri Phương, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Trên đường đi Q rủ Kh cùng mua pháo hoa nổ về sử dụng trong dịp tết, Q nói với Kh“Mua hai thùng pháo dàn 36, khoảng 06 bệ pháo dàn 49”, Kh trả lời “Lấy thêm một thùng pháo cù”, Q nói“Em không thích pháo cù”, Kh nói “Không thích thì để anh lấy”. Kh và Q thống nhất khi về đến nhà số pháo cù Kh lấy hết và tự trả tiền, số pháo còn lại sẽ chia đôi pháo và tiền mua pháo. Sau khi giao trâu xong, Kh tiếp tục điều khiển xe ô tô cùng Q đến đoạn đường vắng thuộc xã Tri Phương, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không quen biết. Q xuống xe và hỏi “Có biết ai bán pháo hoa nổ, pháo trứng nổ không”, người đó trả lời “Ở đây lấy được, lấy đơn giản, có lấy nhiều không”. Q nói “Mua hộ 33 bệ pháo hoa nổ dàn 36, 06 bệ pháo hoa nổ dàn 49 và 500 quả pháo cù” và hỏi “Giá thế nào”, người đó trả lời “Pháo hoa loại 36 là một trăm trên một dàn, pháo hoa loại dàn 49 là một trăm năm mươi nghìn trên một dàn, pháo cù là hai nghìn trên một quả”. Q và Kh nhất trí mua, đến khoảng 11 giờ cùng ngày, người đàn ông trên điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) chở 04 bao tải dứa (01 bao tải dứa bên trong là thùng giấy bìa cát tông, trong cùng chứa 36 túi nilon màu vàng có chữ nước ngoài, với tổng số 432 quả nghi là pháo nổ; 01 bao tải dứa bên trong là lớp nilon màu đen bọc kín, trong cùng có chứa 12 khối hộp kích thước 14,5 x 14,5 x 15cm, trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ; 01 bao tải dứa bên trong là lớp nilon màu đen bọc kín, trong cùng có chứa 18 khối hộp kích thước 14 x 14,5 x 15cm, trong mỗi khối hình hộp có 36 vật hình trụ; 01 bao tải dứa bên trong là lớp nilon màu đen bọc kín, trong cùng có 06 khối hình hộp kích thước 16,5 x 17 x 15cm, bên trong có 49 vật hình trụ) bốc lên thùng xe và 01 túi nilon màu đen (bên trong chứa 03 khối hình hộp, mỗi khối hình hộp kích thước 14,2 x 14,2 x 15 cm, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 vật hình trụ) Kh cầm lên cabin xe ô tô để dưới ghế phụ, Kh trực tiếp trả tổng số tiền là 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng), sau đó Kh điều khiển xe ô tô cùng Q đi về đến huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì Q đổi lái cho Kh, khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày về đến thôn H, xã Y, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì bị tổ công tác Công an tỉnh Tuyên Quang nghi ngờ Q, Kh tàng trữ pháo nổ nên đã đưa về trụ sở UBND xã Y, huyện Chiêm Hóa. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và Kh (Hồi 22 giờ 00 phút ngày 11/01/2021).
Tại kết luận giám định số: 111/GĐKTHS ngày 14/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Q, kết luận:
- Mẫu vật trong thùng cát tông ký hiệu M1 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 16,3 kg (Mười sáu phẩy ba kilogam).
- Mẫu vật trong thùng cát tông ký hiệu M2 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 16,8 kg (Mười sáu phẩy tám kilogam).
- Mẫu vật trong thùng cát tông ký hiệu M3 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 24,8 kg (Hai tư phẩy tám kilogam).
- 68 (sáu mươi tám) vật hình bóng đèn điện trong thùng cát tông ký hiệu M4 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 2,5 kg (Hai phẩy năm kilogam).
- 06 (sáu) khối hộp trong thùng cát tông ký hiệu M4 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 11,3 kg (Mười một phẩy ba kilogam).
- Mẫu vật trong thùng cát tông ký hiệu M5 gửi giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 4,1 kg (Bốn phẩy một kilogam).
Tổng trọng lượng pháo hoa nổ thu giữ của Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh là: 75,8 kg (Bảy lăm phẩy tám kilogam).
Trước cơ quan điều tra các bị cáo Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng M bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 40/CT-VKSCH ngày 02/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về hình phạt chính: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt các bị cáo:
Đào Xuân Q từ 02 năm 01 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 02 tháng đến 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, quản lý, giáo dục.
Phạm Văn Kh từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 08 tháng đến 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, quản lý, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ mẫu vật trong các thùng cát tông ký hiệu M1 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 16,112kg; M2 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 15,4kg; M3 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 23,456kg; M4 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 11,825 kg; M5 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 2,768kg.
Đối với xe 01 xe ô tô tải thùng nhãn hiệu VEAM, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22C-05931 (xe đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011584 mang tên Đào Q M, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 19/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho ông M là chủ sở hữu hợp pháp. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, mặt lưng màu vàng, số Seria F2LZ45EPKPHE, đã qua sử dụng của Đào Xuân Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO - A38 màu đen, kiểu máy - số phiên bản CPH1729EX-11-A35-200903, đã qua sử dụng của Phạm Văn Kh. Ngày 12/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã trả lại điện thoại di động cho Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh là chủ sở hữu hợp pháp. Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo hoa nổ), không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Quang M có đơn xin xử vắng mặt trình bày giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cơ quan điều tra: Xác định chiếc xe 01 xe ô tô tải thùng nhãn hiệu VEAM, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22C-05931 là tài sản hợp pháp của ông. Ông M không biết các bị cáo sử dụng xe ô tô vào mục đích đi mua pháo hoa nổ về sử dụng. Ngày 19/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho ông M. Ông M không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, ngoài ra không có ý kiến gì khác, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Viện kiểm sát huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 11/01/2021, tại thôn H, xã Y, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Q, Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh đã có hành vi Tàng trữ trái phép 75,8 kg pháo hoa nổ, nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bản thân các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết hành vi tàng trữ pháo hoa nổ trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi của mình.
Bị cáo Đào Xuân Q là người rủ bị cáo Kh mua pháo về với mục đích sử dụng vào dịp tết Nguyên đán, trực tiếp liên lạc với người bán để đặt mua 33 bệ pháo hoa nổ dàn 36, 06 bệ pháo hoa nổ dàn 49 và 500 quả pháo cù (500 quả pháo cù Kh nhờ Q mua riêng) với tổng trọng lượng là 75,8 kg (Bảy lăm phẩy tám kilogam). Do đó bị cáo Đào Xuân Q giữ vai trò tích cực trong vụ án.
Trong số 33 bệ pháo hoa nổ dàn 36 và 06 bệ pháo hoa nổ dàn 49 có trọng lượng là 56,5kg chia đôi cho Q và Kh mỗi người một nửa là 28,25kg; 500 quả pháo cù có trọng lượng là 19,3kg. Như vậy số pháo của bị cáo Q mua là 28,25kg, số pháo của bị cáo Kh mua là 47,55kg. Bị cáo Kh còn tích cực cùng bị cáo Q đi đến địa điểm lấy pháo và là người trực tiếp trả tiền cho người bán pháo, số lượng pháo hoa nổ bị cáo Kh mua nhiều hơn bị cáo Q, do đó bị cáo Kh phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò cao hơn bị cáo Q.
Cả hai bị cáo cùng đi lấy pháo và cùng bê pháo lên xe, do vậy bị cáo Q và bị cáo Kh đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng trọng lượng pháo đã tàng trữ là 75,8 kg (Bảy lăm phẩy tám kilogam). Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này tuy các bị cáo cùng tham gia tàng trữ trái phép pháo hoa nổ, nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất cụ thể, không nhằm mục đích bán để thu lợi nhuận, xác định đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, nên cần áp dụng Đều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Q và bị cáo Kh là người phạm tội tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Yên phát hiện và bắt giữ đối tượng có hành vi đánh bạc; bị cáo Q được Ủy ban nhân dân xã B, huyện Hàm Yên; bị cáo Kh được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Chiêm Hóa đề nghị xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra bị cáo Đào Xuân Q có ông ngoại là Nguyễn Văn L là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và bà ngoại là Dương Thị Ch được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Q và bị cáo Kh có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo Q và bị cáo Kh hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Toàn bộ mẫu vật trong các thùng cát tông ký hiệu M1 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 16,112kg; M2 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 15,4kg; M3 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 23,456kg; M4 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 11,825 kg; M5 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 2,768kg là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. (Hiện số vật chứng trên đang được gửi tại kho vật chứng của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang).
Đối với xe 01 xe ô tô tải thùng nhãn hiệu VEAM, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22C-05931; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011584 mang tên Đào Q M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã trả lại cho ông Đào Quan M là chủ sở hữu hợp pháp. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, mặt lưng màu vàng, số Seria F2LZ45EPKPHE của Đào Xuân Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO - A38 màu đen, kiểu máy - số phiên bản CPH1729EX-11-A35-200903 của Phạm Văn Kh (đều đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán pháo hoa nổ cho Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không xem xét giải quyết trong vụ án.
Đối với ông Đào Quang M là chủ xe ô tô biển kiểm soát 22C-05931, do không biết việc Q, Kh sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập hình thức xử lý.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 47, 58, 65 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Xuân Q và Phạm Văn Kh phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Về hình phạt: Xử phạt Đào Xuân Q 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2021). Giao bị cáo Đào Xuân Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Hàm Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Xử phạt Phạm Văn Kh 02 năm 08 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2021). Giao bị cáo Phạm Văn Kh cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Chiêm Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật trong các thùng cát tông ký hiệu M1 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 16,112kg; M2 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 15,4kg; M3 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 23,456kg; M4 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 11,825 kg; M5 có tổng khối lượng còn lại sau giám định là 2,768kg. (Hiện số vật chứng trên đang được gửi tại kho vật chứng của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang).
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa lập ngày 05/5/2021.
- Về án phí: Các bị cáo Đào Xuân Q, Phạm Văn Kh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chiêm Hóa; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - CQCSĐT CA huyện Chiêm Hóa; - CQTHAHS CA huyện Chiêm Hóa; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Bộ phận HSNV CA huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp; - Các bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Huệ |