vanban.org

Bản án 46/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn V đối với bà Nguyễn Thị Thanh X về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn V ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh X. 2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005, Huỳnh Diệu D, sinh ngày 31/7/2006, Huỳnh Văn Q, sinh ngày 31/05/2012, Huỳnh Văn T, sinh ngày 22/7/2013, Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 10/02/2015, cho ông Huỳnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Văn V- Nguyễn Thị Thanh X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn V đối với bà Nguyễn Thị Thanh X về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 46/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27-10-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 142/2021/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B.

Nguyên đơn ông V có mặt, bị đơn bà X được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn xin ly hôn ngày 23 tháng 3 năm 2021, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Văn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà X có mối quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 1997, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 31/5/2007 tại UBND xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng. Ban đầu thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau thì thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân: Bà X không chăm lo cho cuộc sống gia đình, bà Xuân đi làm nhưng không mang tiền về để chăm lo cho gia đình mà sử dụng vào việc chơi đánh bài, mua số đề; hiện nay ông V và bà X đã không còn chung sống cùng nhau, bà X tự ý bỏ ra nhà trọ để ở từ đầu năm 2020 đến nay. Vì vậy đời sống chung vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có hạnh phúc nên ông V yêu cầu được ly hôn với bà X.

- Về con chung: Ông V và bà X có 08 con chung tên Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1999; Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 2001; Huỳnh Văn K, sinh năm 2003; Huỳnh Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005; Huỳnh Diệu D, sinh ngày 31/7/2006; Huỳnh Văn Q, sinh ngày 31/5/2012; Huỳnh Văn T, sinh ngày 22/7/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 10/02/2015. Ông V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Huỳnh Ngọc D, Huỳnh Diệu D, Huỳnh Văn Q, Huỳnh Văn T, Huỳnh Ngọc M và không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con, hiện nay con chung đang ở cùng nhà và do ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung Huỳnh Ngọc T, Huỳnh Thị Thu H và Huỳnh Văn K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Khi ly hôn, ông không yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh X trình bày:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng như tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn bà X biết để tham gia giải quyết vụ án nhưng bà X vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn.

Tại biên bản xác minh cùng ngày 15/4/2021 của Tòa án đối với Cán bộ tư pháp xã L, huyện D và ông Nguyễn Thanh H – Trưởng Ban lãnh đạo ấp ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B xác định: Bà Nguyễn Thị Thanh X có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B và hiện nay đang sinh sống tại địa phương. Địa phương được nhân dân phản ánh rằng: Bà X cho biết ông V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác (không rõ nhân thân lai lịch) vì vậy vợ chồng thường đánh chửi lẫn nhau. Từ năm 2019 đến nay bà X và ông V không còn chung sống cùng nhau. Bà X bỏ nhà ra phòng trọ ở, riêng ông V vẫn cùng các con sống tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B giữa ông V và bà X không có sự quan tâm đến nhau.

* Tại phiên tòa, đại di n Vi n i m sát phát bi u ý iến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục cho đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông V có mặt, bị đơn bà X được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh X.

Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung của nguyên đơn ông Việt là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Việt khởi kiện bà X về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Ông V hiện đang cư trú tại ấp Đồng Bà Ba, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông V có mặt, bị đơn bà X được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh X theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Ông V và bà X chung sống với nhau từ năm 1997, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương vào ngày 31/5/2007. Ông V xác định: Ban đầu thì ông V và bà X chung sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bà X cho rằng ông V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng không có chứng cứ. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cự cãi đánh chửi lẫn nhau. Từ năm 2019 đến nay ông V, bà X không còn chung sống cùng nhau, bà X bỏ ra nhà trọ để ở, ông V vẫn cùng các con sống tại nhà, giữa ông V, bà X không còn quan tâm đến nhau; đồng thời bà X không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Lời trình bày của nguyên đơn ông V phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Kết quả xác minh ngày 15/4/2021 của Tòa án đối với Cán bộ tư pháp xã L, ông Nguyễn Thanh H – Trưởng Ban lãnh đạo ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh B. Theo quy định tại các Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình; chung sống cùng nhau, tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Từ những quy định trên thấy rằng, bà Xuân đã vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của người vợ, làm cho đời sống chung giữa ông V và bà X ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của ông V đối với bà X là có căn cứ chấp nhận.

Trong quá trình chung sống, giữa ông V và bà X có 08 con chung tên Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1999; Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 2001; Huỳnh Văn K, sinh năm 2003; Huỳnh Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005; Huỳnh Diệu D, sinh ngày 31/7/2006; Huỳnh Văn Q, sinh ngày 31/5/2012; Huỳnh Văn T, sinh ngày 22/7/2013 và Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 10/02/2015. Hiện các cháu đang do ông Việt trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án tham khảo ý kiến của các cháu, các cháu có nguyện vọng chung sống với ông V. Đây là sự tự nguyện, là ý chí tự nguyện của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông V không yêu cầu nên không xem xét.

Tài sản chung, nợ chung: Ông V không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng như tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn bà X biết để tham gia giải quyết vụ án nhưng bà X vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, 21, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn V đối với bà Nguyễn Thị Thanh X về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn V ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh X.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005, Huỳnh Diệu D, sinh ngày 31/7/2006, Huỳnh Văn Q, sinh ngày 31/05/2012, Huỳnh Văn T, sinh ngày 22/7/2013, Huỳnh Ngọc M, sinh ngày 10/02/2015, cho ông Huỳnh Văn V trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1999, Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 2001 và Huỳnh Văn K, sinh năm 2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V về việc không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn V chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0045805 ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, ông V đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

T M HỘI Đ NG X T X Ơ TH M

Cỡ chữ