- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Văn Tuyên và Nguyễn Thị Phương"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 167 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK SONG TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/DS-ST Ngày 30-6-2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK SONG, TỈNH ĐĂK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Mã Thị Kỳ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Nhót và ông Hoàng Minh Hải
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Song.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắ k Song tham gia phiên toà : Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắ k Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2021/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25c/2021/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 40b/2021/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2021/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2021,giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (Viết tắt là Ngân hàng S)
Địa chỉ: 266 – 268 N, Phường 8, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh
Đơn vị được ủy quyền: Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh tỉnh Đăk Nông
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H – Trưởng phòng kiểm soát rủi ro – Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh tỉnh Đăk Nông.
Địa chỉ: 33 H, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt (đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 29-12-2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14-3-2018 ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S – chi nhánh Đăk Nông theo hợp đồng tín dụng số LD1807200400 ngày 14-3-2018 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1807200400 ngày 04-3-2019 và Theo giấy nhận nợ số 01/LD1906800257 ngày 21-3-2019, ngày trả nợ cuối cùng 21-3-2024.
- Số tiền vay 900.000.000 đồng
- Dư nợ hiện tại: 900.000.000 đồng
- Thời hạn vay là 60 tháng;
- Lãi suất: 11%/năm;
- Mục đích vay: Sản xuất nông nghiệp;
- Phân kỳ trả nợ như sau:
Việc trả nợ gốc được phân thành 05 kỳ, cụ thể như sau:
Kỳ thứ nhất: Trả 50.000.000 đồng, hạn trả là ngày 21-3-2020;
Kỳ thứ hai: Trả 50.000.000 đồng, hạn trả là ngày 21-3-2021;
Kỳ thứ ba: Trả 100.000.000 đồng, hạn trả là ngày 21-3-2022;
Kỳ thứ tư: Trả 150.000.000 đồng, hạn trả là ngày 21-3-2023;
Kỳ thứ năm: Trả 550.000.000 đồng, hạn trả là ngày 21-3-2024;
Tài sản bảo đảm bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn T đã thế chấp cho Ngân hàng S chi nhánh Đăk Nông: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BD 776903 do UBND huyện Đ cấp ngày 18-7-2011 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P (chủ sử dụng đất nay là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P), tọa lạc tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, thửa đất số 12, tờ bản đồ số 127, diện tích 26735m2. Việc thế chấp được lập bằng hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 307/2017/TCGN ngày 06-3-2017 và văn bản thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/307/2017/TCGN, được công chứng tại Văn Phòng Công chứng Trần Thị T vào ngày 19-3-2018 và đăng ký thế chấp tại chi nhánhVăn phòng đăng ký đất đai Đ, vào ngày 16-3-2017.
Đến thời điểm trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Qua nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P vẫn không có thiện chí trả nợ, cố tình vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy ngày 01-3-2020 Ngân hàng ban hành thông báo chấm dứt hợp đồng tín dụng và chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn (Nhóm 2).
Tính hết ngày 23-11-2020 ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P còn nợ ngân hàng tổng số tiền là: 1.103.507.174 đồng, trong đó: Nợ gốc là 900.000.000 đồng; lãi trong hạn là 193.554.247 đồng, lãi phạt quá hạn là 9.952.247 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P trả nợ, đã tạo điều kiện về thời gian để ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P trả nợ, nhưng ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P đến nay vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 23-11-2020 là 1.103.507.174 đồng , trong đó vốn gốc là 900.000.000 đồng; lãi trong hạn là 193.554.247 đồng, lãi phạt quá hạn là 9.952.247 đồng.
Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P đã thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ.
Yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán toàn bộ án phí, chi phí phát sinh có liên quan.
Nếu việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì buộc ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06-4-2021 thể hiện: Qua kiểm tra, xác minh, đo đạc trên thực tế và ráp bản đồ thì đặc điểm tứ cận các thửa đất xem xét, thẩm định đúng như các Giấy chứng nhận QSDĐ của các thửa đất mà ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P thế chấp tại Ngân hàng.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P trả tổng số tiền là 1.180.840.827 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 258.878.591 đồng, lãi phạt quá hạn là 4.261.219 đồng, lãi chậm trả lãi là 17.701.017 đồng, lãi suất tính đến ngày 30-6-2021; đồng thời các khoản tiền lãi, lãi quá hạn, các khoản phí phát sinh do quá hạn được tiếp tục tính kể từ ngày 01-7-2021 đến khi thu hồi được toàn bộ nợ vay theo mức lãi suất, lãi quá hạn, các khoản phí phát sinh do chậm trả lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký. Ngoài ra, Ngân hàng đề nghị được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả toàn bộ số tiền nợ của ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P thì ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P: Kết quả xác minh xác định ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; tuy nhiên, nay ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P đã đi khỏi địa Nguyễn Thị P nhưng không xác định được hiện nay đang ở đâu. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P bằng các hình thức niêm yết, thông báo trên Nguyễn Thị P tiện thông tin đại chúng nhưng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Đắ k Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung giải quyết vụ án, phát biểu như sau:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng thì thấy: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành quy định, đã đi khỏi địa Nguyễn Thị P không xác định được nơi ở mới.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả cho nguyên đơn 1.180.840.827 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 258.878.591 đồng, lãi phạt quá hạn là 4.261.219 đồng, lãi chậm trả lãi là 17.701.017 đồng, tính đến ngày 30-6-2021; đồng thời buộc ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P trả các khoản tiền lãi, lãi quá hạn, các khoản phí phát sinh do quá hạn kể từ sau ngày 01-7-2021 đến khi thu hồi được toàn bộ nợ vay theo mức thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp, ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; trường hợp xử lý tài sản không đủ để trả nợ thì ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P phải tiếp tục trả nợ cho ngân hàng.
Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Bản sao Hồ sơ tín dụng, hồ sơ pháp lý của ngân hàng, hồ sơ khách hàng; là các tài liệu do nguyên đơn cung cấp. Ngoài ra, còn có một số tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án như bản tự khai của nguyên đơn; biên bản xem xét, thẩm định; kết quả thông báo, triệu tập đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền nợ gốc là 900.000.000 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: LD1807200400 ngày 14-3-2018 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1807200400 ngày 04-3-2019, đồng thời yêu cầu xử lý thế chấp nếu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P không trả được hoặc trả không đủ nợ nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo điể m a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thời hiệu khởi kiện: Từ ngày 21-3-2020 ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 29-12-2020 Ngân hàng khởi kiện là vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện, quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng bằng các hình thức như trực tiếp (đối với nguyên đơn); niêm yết công khai và thông báo trên Nguyễn Thị P tiện thông tin đại chúng (đối với bị đơn) đúng theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P không có mặt, kết quả xác minh tại địa Nguyễn Thị P xác định ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P đã đi khỏi địa Nguyễn Thị P và hiện nay không xác định được ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P đang ở đâu. Như vậy, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P đã tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P vắng mặt đến lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
. Về nội dung và hình thức của hợp đồng: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P có vay tiền của Ngân hàng S chi nhánh Đăk Nông số tiền 900.000.000 đồng, thể hiện qua Hợp đồng tín dụng số: LD1807200400 ngày 14-3-2018 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1807200400 ngày 04-3-2019, thời hạn vay là: 60 tháng kể từ ngày 14-3-2018; lịch trả nợ gốc và lãi trả làm 05 lần phân theo kỳ; lãi suất cho vay: 11,0%/năm; mục đích vay là sản xuất nông nghiệp. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng.
. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P trả tổng số tiền nợ là 1.180.840.827 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 900.000.000 đồng, lãi trong hạn là 258.878.591 đồng, lãi phạt quá hạn là 4.261.219 đồng, lãi chậm trả lãi là 17.701.017 đồng, tính đến ngày 30-6-2021; Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P xác định số tiền vay, thời hạn trả nợ và lãi suất thỏa thuận như nguyên đơn trình bày là đúng; Ngân hàng S đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P số tiền 900.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P không trả gốc và lãi suất cho Ngân hàng S khi đến thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng, vi phạm khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Mặc dù vậy, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P đã bỏ đi khỏi địa Nguyễn Thị P và không xác định được hiện nay đang ở đâu nên việc Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P trả nợ là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
Đối với yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, phạt chậm trả, phạt vi phạm giữa Ngân hàng S với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P theo hợp đồng tín dụng nêu trên là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi trên số tiền gốc mà ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P còn nợ, cụ thể: lãi trong hạn là 258.878.591 đồng, lãi phạt quá hạn là 4.261.219 đồng, lãi chậm trả lãi là 17.701.017 đồng (tiền lãi tính đến ngày 30-6-2021).
. Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 307/2017/TCGN ngày 06-3-2017 và văn bản thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/307/2017/TCGN giữa Ngân hàng S với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P, thấy rằng: Hợp đồng được lập thành văn bản, theo mẫu, có công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Thị T vào ngày 19-3-2018 và đăng ký thế chấp tại chi nhánhVăn phòng đăng ký đất đai Đ, vào ngày 16-3-2017. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với các thửa đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BD 776903do UBND huyện Đ cấp ngày 18-7-2011 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P (chủ sử dụng đất nay là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P), tọa lạc tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, thửa đất số 12, tờ bản đồ số 127, diện tích 26735m2.
Việc thế chấp đúng quy định theo điểm a khoản 3 Điều 167; khoản 1 Điều 168 Luật đất đai; Điều 298, Điều 299, 317, 320 Bộ luật Dân sự. Do đó, hợp đồng thế chấp được lập giữa Ngân hàng S với ông ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P là hợp pháp, yêu cầu của khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ.
. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
. Về chi phí thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bị đơn: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 298; 299, 317, 320, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 167; khoản 1 Điều 168 Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 1.180.840.827đ (Một tỷ một trăm tám mươi triệu tám trăm bốn mươi nghìn tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng), trong đó: Tiền nợ gốc là 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng), lãi trong hạn là 258.878.591đ (Hai trăm năm mươi tám triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng), lãi phạt quá hạn là 4.261.219đ (Bốn triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm mười chín đồng), lãi chậm trả lãi là 17.701.017đ (Mười bảy triệu bảy trăm linh một nghìn không trăm mười bảy đồng); lãi suất tính đến ngày 30-6-2021.
Trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P không trả hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P để đảm bảo việc thu hồi nợ (Theo hợp đồng thế chấp số 307/2017/TCGN ngày 06-3-2017 và văn bản thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/307/2017/TCGN ngày 19-3-2018);
Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả toàn bộ số tiền nợ của ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P thì ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị P phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30-6-2021) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả cho ngân hàng số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P phải nộp 47.425.000đ (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng (làm tròn)) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 22.553.000đ (Hai mươi hai triệu năm trăm năm mươi ba nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005122, ngày 12-01-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Nguyễn Văn T án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án. Nơi nhậ n:
| - TAND tỉ nh Đắ k Nông; - VKSND huyệ n Đắ k Song; - Chi cục THA huyệ n Đắ k Song; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mã Thị Kỳ |