vanban.org

Bản án 46/2021/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 12/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Th.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành L. Buộc ông Nguyễn Ngọc Th phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông L 02 trụ bê tông và 05 đoạn dây kẽm gai có tổng giá trị là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Dan su"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2021/DS-PT
Ngày: 12 - 3 - 2021
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.

Các Thẩm phán: Ông Võ Công Phương.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2020/TBTL-DS ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 75/2021/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1966 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1955 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thành L, trình bày:

Nguyên lô đất ông L đã khai hoang canh tác thuộc đất hành lang đường bộ có một trụ điện cao thế dùng để thắp sáng, ông Nguyễn Ngọc Th dùng điện tại trụ này để bơm nước ruộng của ông Th. Vào năm 2009, ông L đã trồng trụ bê tông và kéo hàng rào kẽm gai ở phía trước lô đất Ông canh tác. Khi rào ông L đã dành riêng cho ông Th một lối đi vào trụ điện để tưới tiêu, nhưng không hiểu sao ông Th đã tự ý cắt dây kẽm gai hàng rào của ông L. Ông L đã báo chính quyền địa phương đến lập biên bản hiện trường thì ông Thoại lại tiếp tục tháo dỡ hai trụ bê tông hàng rào và 05 đường dây kẽm gai của ông L, ông Th đã phi tang mất 01 trụ bê tông, còn 01 trụ bị gãy. Trong lõi trụ bê tông có lõi sắt, chiều dài 2,24m. Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2020, ông L yêu cầu ông Th bồi thường cho Ông số tiền 1.700.000đ. Nhưng sau đó ông L thay đổi yêu cầu Tòa giải quyết buộc ông Th phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Ông theo giá mà Hội đồng định giá đã định là 350.720đ (Ba trăm năm mươi nghìn bảy trăm hai mươi đồng).

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Th, trình bày:

Năm 2004, ông L được Nhà nước cấp diện tích đất thổ cư giáp với đường đi. Bên phải đất của ông L được cấp có một khoảng đất trống có diện tích khoảng 280m2; trên diện tích đất trống này, từ trước đến nay có một con đường nội đồng là đường vào ruộng của một số hộ dân có đất ruộng ở vùng đất có tục danh là Đ thuộc thôn T, xã C (ở phía sau nhà ông L), con đường này bắt đầu từ đường Quốc lộ 19C đến dọc sau nhà ông L. Đến năm 2006, ông L xây nhà đã lấn đất ra con mương phía sau nhà, lấp con mương cũ ở phía bên phải nhà ông L và tự làm lại một con mương mới rồi rào luôn con mương cũ vào trong phần đất vườn nhà của ông L làm cho bà con không có đường đi vào ruộng nên bà con đã làm đơn gửi UBND xã yêu cầu giải quyết. Kết quả giải quyết của UBND xã là ông L chỉ được sử dụng diện tích đất đã được Nhà nước cấp cho cho hộ ông L, diện tích đất không được cấp cho ông L, ông L không được sử dụng. Các hộ dân có ruộng sau nhà ông L được đi trên khoảng đất trống này. Nhưng sau đó, ông L không chấp hành nội dung giải quyết của UBND xã mà tiếp tục rào hết diện tích đất trống nói trên vào trong vườn nhà của ông L làm cho bà con không có lối đi vào ruộng. Bà con đã làm đơn báo UBND xã C nhưng không được giải quyết. Do đó, vào khoảng tháng 3/2017 ông Th đã dùng kìm cắt hàng rào dây thép gai một đoạn dài khoảng 02m, lấy cuốc đào và nhổ 02 trụ bê tông của ông L, bỏ xuống đất ngay chỗ hàng rào để có lối đi vào đóng mở điện tưới tiêu cho ruộng. Ông Th không chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của ông L.

Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thành L. Buộc ông Nguyễn Ngọc Th phải bồi thường thiệt hại cho ông L 02 trụ bê tông và 05 đoạn dây kẽm gai có tổng giá trị là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

- Ngày 14/10/2020 bị đơn ông Nguyễn Ngọc Th có đơn kháng cáo không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên Tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo với nội dung như trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Th, thấy rằng: Phần đất mà ông L trồng trụ bê tông và hàng rào dây thép gai thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 6, tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định là đất của UBND huyện V cho ông Nguyễn Thành L thuê đất để sản xuất, quá trình sử dụng đất ông L đã trồng trụ bê tông và rào hàng rào bằng dây thép gai để phục vụ cho việc canh tác của ông L. Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thì phần đất nói trên không phải là con đường đi của ông Th và một số hộ dân canh tác ruộng ở khu vực này vì đã có con đường đi khác. Như vậy, việc ông Th đã tự ý dùng kìm cắt hàng rào dây thép gai và đào nhổ 02 trụ bê tông của ông L để có lối đi đã làm thiệt hại đến tài sản của ông L nên án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, buộc ông Th phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Tại phiên Tòa phúc thẩm ông Th cũng thừa nhận mình đã nhổ trụ bê tông và cắt phá hàng rào của ông L. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Th, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự, ông Th phải chịu chi phí định giá tài sản với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền này ông L đã nộp tạm ứng chi phí định giá xong. Ông Th có nghĩa vụ hoàn lại cho ông L 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Về án phí: Ông Th là người cao tuổi nhưng tại cấp sơ thẩm ông Th không có đơn xin miễn tiền án phí nên án sơ thẩm đã tuyên buộc ông Th phải chịu án phí. Tại cấp phúc thẩm ông Th có đơn xin miễn nộp án phí, do đó sửa án sơ thẩm về án phí, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ông Thoại là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Th, sửa Bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 584 và 589 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Th.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành L. Buộc ông Nguyễn Ngọc Th phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông L 02 trụ bê tông và 05 đoạn dây kẽm gai có tổng giá trị là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

2. Về chi phí tố tụng và án phí:

2.1. Về chi phí định giá tài sản: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ông Th phải chịu, số tiền này ông L đã tạm ứng. Buộc ông Th có nghĩa vụ hoàn lại cho ông L 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: Ông Th là người cao tuổi nên được miễn.

Hoàn trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Thành L theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006923, ngày 09/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

Hoàn trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Ngọc Th theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002259, ngày 15/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ