- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Hồng N tàng trữ 0,7545g ma túy loại Methamphetamine - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HSST Ngày: 20/3/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.
Ông Đặng Quang Hoạch.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2020/TLST-HS ngày 09/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HS ngày 09/3/2020, đối với bị cáo:
Lê Thị Hồng N (M), sinh năm: 1984 tại Đồng Nai.
Nơi thường trú: Tổ 6, khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Không.
Con ông Lê Văn N, sinh năm: 1951 (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm: 1954. Bị cáo chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với một người Malaysia (không rõ họ tên), có một con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 26/12/2019.
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Minh H, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Tổ 10, khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Dương Quang P, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Hồng N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2018, loại ma túy N sử dụng là ma túy đá. Khoảng 19 giờ ngày 25/12/2019, N gọi điện từ số 0852.769.378 của N đến số điện thoại của đối tượng tên Tài (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy đá để sử dụng, Tài đồng ý và hẹn N đến khu vực bên hông nhà thờ Lộc Hòa, xã Tây Hòa, Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để giao ma túy. N đón xe taxi đến gặp Tài và mua được 01 gói ma túy, N cất giấu vào trong gói thuốc lá 555 bỏ vào túi xách rồi đến thuê phòng 206 của nhà nghỉ N ở ấp 1, xã Sông Trầu, Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, tại đây N gọi điện thoại rủ Lê Minh H (là bạn trai của N) đến nhà nghỉ để sử dụng ma túy cùng với N. Đến khoảng 15 giờ ngày 26/12/2019, khi N và Hậu đang ở nhà nghỉ thì bị Công an Huyện Trảng Bom kiểm tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói ny lon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu trắng có sim số 0852.769.378 và số tiền 5.150.000 đồng (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 1807/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,7545 gam, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 51/CT-VKS-TB ngày 14/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Lê Thị Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với 01 phong bì niêm phong sau giám định số 1807/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2020 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu trắng có sim số 0852.769.378 của N sử dụng làm công cụ liên hệ mua ma túy, đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công.
Đối với số tiền 5.150.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo của N không liên quan đến hành vi phạm tội của N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho N.
Đối với đối tượng tên Tài là người bán ma túy cho N, N khai không nhớ số điện thoại và cũng không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở để xử lý.
Đối với Lê Minh H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ông Nguyễn T (là chủ nhà nghỉ N) có hành vi để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực ông T có trách nhiệm quản lý, Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo N mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Bị cáo N không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của người làm chứng:
Anh Hậu, anh Phú đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra và không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 26/12/2019 tại nhà nghỉ N ở ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, khi Lê Thị Hồng N đang tàng trữ trái phép 0,7545 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Trảng Bom phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Lê Thị Hồng N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo và cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 1807/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu trắng có sim số 0852.769.378 của N sử dụng làm công cụ liên hệ mua ma túy.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2019.
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 1807/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu trắng đã qua sử dụng, hiện không hoạt động kèm theo sim có số seri 898402000 10905207304
Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án hành án huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2020.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thị Hồng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh, VKSND Huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - Công an Huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |