- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Văn M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HSST Ngày: 21-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phan Bá Lịch.
2. Ông Lang Mạnh Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên
Ngày 21/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo: Sầm Văn M, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 02/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sầm Văn T và bà Sầm Thị D; Có vợ là: Sầm Thị Th (Đã ly hôn) và 02 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 03/4/2020 và tạm giam từ ngày 12/4/2020 cho đến nay; Có mặt.
Bị hại: Anh Hà Văn T. Sinh năm: 1987. Trú tại: Bản B, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Sầm Thị B. Sinh năm: 2002. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 29/3/2020, Sầm Văn M đến nhà anh Sầm Văn D (ở cùng bản) chơi và ăn cơm, uống rượu tại đây vì nhà anh D có tổ chức làm vía cho con trai theo phong tục tập quán địa phương. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì có anh Hà Văn T cũng đến chơi và có ngồi uống rượu cùng với M. Trong quá trình uống rượu thì giữa M và anh T có xảy ra cãi cọ và M có chửi bới anh T nên anh T đã đứng lên đi lại giường ngồi nói chuyện với chị Sầm Thị B. Khi anh T cùng chị B đang ngồi nói chuyện thì M lấy một con dao tại bếp của nhà anh D rồi dùng dao chém một nhát trúng vào vùng miệng của anh T. Anh T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình tỉnh Nghệ An từ ngày 29/3/2020 đến ngày 22/4/2020. Ngày 03/4/2020, Sầm Văn M đã đến đầu thú tại cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản tóm tắt bệnh án của anh Hà Văn T, lập ngày 06/4/2020 của Bênh viện chấn thương chỉnh hình Nghệ An thể hiện: Vết thương đứt gần lìa môi trên do bị chém; mất răng 1.1, 1.2, 1.3, 2.1 và 2.2.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 111/TTPY ngày 08/4/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Nghệ An kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 18%.
Người bị hại - Anh Hà Văn T trình bày: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/3/2020, tại nhà của anh Sầm Văn D, Sầm Văn M đã có hành vi dùng dao chém vào mặt anh T gây nên vết thương vùng miệng và rụng 05 chiếc răng. Quá trình anh T điều trị tại Bệnh viện và nghỉ dưỡng ở nhà thì M và gia đình không thăm hỏi hay bồi thường gì cho anh. Tại phiên tòa hôm nay, anh T yêu cầu M phải bồi thường cho anh số tiền chi phí cấp cứu, điều trị, bồi dưỡng và tổn thất với tổng số tiền là 70.139.500đ (Bảy mươi triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, năm trăm đồng). Ngoài ra, anh T đề nghị xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
Người làm chứng - Chị Sầm Thị B trình bày: Vào chiều ngày 29/3/2020, chị B có đến nhà anh Sầm Văn D chơi và ăn cơm, uống rượn cùng anh Hà Văn T và Sầm Văn M. Sau khi ăn cơm xong thì chị B và anh T có đến chiếc giường ở gian bếp nhà anh D ngồi chơi nói chuyện. Trong lúc hai người đang nói chuyện thì chị B thấy Sầm Văn M cầm một con dao đăn trên tay phải và chém một nhát vào mặt anh T. Chị B thấy anh T bị đứt môi trên và rụng một số chiếc răng. Sau đó thì mọi người đã đưa anh T xuống sơ cứu tại Trung tâm y tế huyện Quỳ Châu và chuyển đi bệnh viện tuyến tỉnh. Lý do vì sao mà M cầm dao chém anh T thì chị B không biết.
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là con dao mà Sầm Văn M đã sử dụng để gây thương tích cho anh Hà Văn T. Ngoài ra cũng đã thu giữ 02 chiếc răng của anh T bị rơi tại nhà anh D.
Cáo trạng số 43/CT-VKS-HS ngày 07/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố bị cáo Sầm Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 585, 590 BLDS, đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền từ 45.000.000 đến 50.000.000đ. Tách phần yêu cầu chi phí phục hồi thẩm mỹ để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người bị hại: Tại phiên tòa hôm nay, chị Sầm Thị B vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của chị B và những lời khai này đã được công bố tại phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt chị Bé không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 293 BLTTHS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Sầm Thị B.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/3/2020, tại nhà anh Sầm Văn D thuộc bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, chỉ vì nhìn mặt anh T thấy ghét nên Sầm Văn M đã có hành vi dùng dao chém vào mặt anh Hà Văn T. Do bị đánh nên anh T bị rách môi trên, rụng 05 chiếc răng và có tỷ lệ thương tích là 18%.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 18% và phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 BLHS. Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho anh T. Việc bị cáo bị truy tố theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng theo quy định của pháp luật.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm vào khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ đó là sức khỏe của người khác. Vì thái độ hung hãn nên đã vô cớ gây thương tích nghiêm trọng cho người khác.Sau khi phạm tội đã không đi lại, thăm hỏi gì người bị hại. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, làm mất an ninh trật tự và gây tâm lý bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Giữa bị cáo và anh T không có mâu thuẫn, xích mích gì mà bị cáo đã vô cớ dùng dao gây thương tích cho anh T. Như vậy, bị cáo phạm tội còn có tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội đã đến đầu thú tại cơ quan Công an. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, anh Hà Văn T yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường cho anh những khoản cụ thể như sau: Chi phí thuê xe đi cấp cứu, điều trị và về nhà - 3.000.000đ; Tiền viện phí phải trả - 139.500đ; Chi phí bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian nằm viện và điều trị tại nhà - 10.000.000đ; Tiền công lao động của người bị hại bị mất trong thời gian nằm viện và điều trị tại nhà - 200.000đ/ngày x 60 ngày = 12.000.000đ; Tiền công lao động của người chăm sóc bị mất trong thời gian nằm viện và điều trị tại nhà - 200.000đ/ngày x 25 ngày = 5.000.000đ; Bồi thường tổn thất về sức khỏe – 15.000.000đ; Bồi thường tổn thất về tinh thần - 15.000.000đ; Chi phí phục hồi thẩm mỹ - 10.000.000đ. Tổng cộng là 70.139.500đ (Bảy mươi triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, năm trăm đồng).
Xét thấy, thương tích của anh T là do Sầm Văn M gây ra. Các chi phí và yêu cầu bồi thường của anh T là có cơ sở và cần được chấp nhận. Cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ số tiền nói trên cho anh Hà Văn T.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Con dao và 02 chiếc răng người là vật chứng của vụ án, nay đã cũ, hư hỏng và không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt Sầm Văn M 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2020.
- Căn cứ Điều 48 BLHS; các Điều 585, 590 BLDS. Buộc Sầm Văn M phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Hà Văn T số tiền 70.139.500đ (Bảy mươi triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Căn cứ Điều 106 BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy một con dao và 02 chiếc răng (Tất cả có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 10 giờ ngày 08/7/2020 giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu).
- Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Sầm Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 3.500.000đ (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí DSST.
- Bị cáo và anh Hà Văn T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu; - VKSND; Phòng KTNV-TAND T.Nghệ An; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |