- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng Q bị truy tố tôi; Cố ý làm hư hỏngtài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS-ST Ngày 11 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Hà Thị Thanh Thảo
2.Ông Trần Quang Huấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Q (tên gọi khác: Q Lích) - sinh ngày 28 tháng 02 năm 1993 tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT: Xã D, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Khu 3, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T - sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1967; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thúy N - sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2017; tiền sự: Ngày 23/7/2018 bị Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi Xâm hại đến sức khỏe người khác, hình thức: phạt tiền mức phạt 2.500.000 đồng; tiền án: Không; nhân thân: Bản án số 52/2013/HSST ngày 12/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hồng Q 24 (Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ngày 08/01/2018, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với mức phạt 1.000.000đồng; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, bị bắt tạm giam ngày 04/6/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
+Bị hại: Anh Dương Ngọc H - sinh năm 1995
Trú tại: Khu 3, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
+Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1967. Trú tại: khu 3, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
+Người làm chứng: Anh Âu Dương D - sinh năm 1995
Trú tai; Khu 2, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2020, Nguyễn Hồng Q xảy ra mâu thuẫn với Dương Ngọc H và Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996 đều trú tại Khu 3, xã H, thị xã P. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, Nguyễn Hồng Q đã dò hỏi thông tin để đánh H và Nguyễn Văn Q. Đến khoảng 21 giờ ngày 22/4/2020, Nguyễn Hồng Q đã gọi điện cho Nguyễn Văn Q hẹn gặp nói chuyện. Lúc này, vợ chồng Nguyễn Văn Q đang đi ăn, do lo sợ bị đánh nên Nguyễn Văn Q đã gọi điện nhờ H đến đón. Sau đó, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 19C - 126.88 đến đưa vợ chồng Q về nhà. Trên đường về Q nói cho H biết về việc Nguyễn Hồng Q đang tìm đánh mình. Thấy vậy, H điều khiển xe đến nhà Nguyễn Hồng Q ở khu 3, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nơi, H gọi điện thoại cho Nguyễn Hồng Q để gặp nhưng Q không đồng ý gặp. Chờ một lúc không gặp được Q nên H điều khiển xe đưa vợ chồng Nguyễn Văn Q về nhà rồi tiếp tục đi chơi. Khi thấy H hẹn gặp, nghĩ rằng H tìm đánh mình nên Nguyễn Hồng Q đã gọi điện cho Lê Xuân H, sinh năm 1987, HKTT: Khu 2, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Xuân T, sinh năm 1998, HKTT: Khu 4, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ hẹn gặp nhau tại cổng nhà của Q để đi đánh nhau. Một lúc sau, H đi xe taxi đến đón T rồi cùng đi đến nhà của Nguyễn Hồng Q. Lúc này, Nguyễn Hồng Q đi từ nhà ra cổng cầm theo một thanh kiếm dài khoảng 70cm lên xe taxi đi cùng H và T tìm đánh H và Nguyễn Văn Q. Nhóm của Q tìm một lúc nhưng không thấy nhóm của H nên đi về. Khi về đến nhà, Nguyễn Hồng Q tiếp tục dùng điện thoại gọi hỏi thì biết được thông tin H đang uống bia ở khu vực ngã ba Km5 thuộc xã H, thị xã P. Lúc này, Nguyễn Hồng Q tiếp tục gọi điện cho H, T quay lại và gọi điện cho Nguyễn Minh Q, sinh năm 2001, HKTT: Khu 3, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ hẹn gặp nhau tại đường Quốc lộ 2 đoạn trước cổng công ty Honda Bình Minh thuộc địa phận xã P, thị xã P. Sau đó, Nguyễn Hồng Q từ nhà điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng không gắn biển kiểm soát cầm theo thanh kiếm lúc trước đi đến điểm hẹn. Khi nhận được điện thoại của Nguyễn Hồng Q thì Q đang ở phòng trọ của Q tại xã T, thị xã P, tình Phú Thọ cùng với Nguyễn Văn C, sinh năm 1999, HKTT: Khu 4, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ và hai người bạn của C (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) nên Q rủ C đi cùng mình. Biết là đi đánh nhau nên khi đi C cầm theo tuýp sắt, phóng lợn và rủ hai người bạn của C cùng đi. Sau đó nhóm của Q đón một chiếc xe taxi của hãng N đi đến điểm hẹn gặp Q. Một lúc sau H và T cũng xe đi taxi hãng T đến điểm hẹn. Khi gặp nhau, Nguyễn Hồng Q đưa xe máy của mình cho hai người bạn của C điều khiển còn Q lên xe taxi N đi cùng Q và C để chỉ đường. Nhóm của Nguyễn Hồng Q cùng đi đến khu vực ngã ba Km5 xã Hà Lộc nhưng không gặp nhóm của H nên di chuyển đến nhà Nguyễn Văn Q ở Khu 3, xã H. Tại đây, nhóm của Nguyễn Hồng Q cũng không gặp được Nguyễn Văn Q nên đã quay lại khu vực ngã ba Km5 xã H đứng chờ H và Nguyễn Văn Q để đánh. Lúc này, Dương Ngọc H đã đưa Nguyễn Văn Q về nhà nên điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 19C - 126.88 đi qua ngã ba Km5 và dừng trước cửa nhà Âu Dương D tại Khu 2, xã H để đón Đức đi ăn đêm. Vị trí đỗ xe của H cách vị trí nhóm của Nguyễn Hồng Q đang đứng chờ khoảng 50m. Lúc này, Nguyễn Hồng Q phát hiện thấy xe của H nên đã cầm kiếm chạy về phía xe của H. Khi đó Đức vừa lên xe, nhìn qua gương chiếu hậu thấy Q đang cầm kiếm chạy đến nên H điều khiển xe di chuyển về hướng UBND xã H. Thấy xe của H di chuyển, Nguyễn Hồng Q chạy theo một đoạn nhưng không kịp nên quay lại lên xe taxi T đang chở H và T. Khi lên xe, Q ngồi ở ghế phụ lái và bảo lái xe taxi điều khiển xe dồn theo xe của H. Thấy vậy, Q bảo hai người bạn của C lên xe taxi Nam Cường đuổi theo xe taxi chở Q chạy phía trước, còn Q điều khiển xe máy của Q phía sau chở Công lúc này đang cầm tuýp sắt đuổi theo. Phát hiện bị nhóm của Q dồn đuổi nên khi đi qua UBND xã H khoảng 500m H điều khiển xe ô tô vòng quay lại mục đích cho Đức ngồi trên xe sử dụng điện thoại cá nhân quay lại diễn biến sự việc để trình báo cơ quan Công an. Khi đầu xe ô tô của H và đầu xe taxi chở Q cách nhau khoảng 50m thì H cố tình đi chậm lại để chặn xe của Q. Khi hai xe cách nhau khoảng 05m thì dừng lại nhưng vẫn nổ máy. Ngay sau đó, chiếc xe taxi N chở hai người bạn của C và xe máy do Q điều khiển cũng đi đến đỗ phía sau xe taxi chở Nguyễn Hồng Q. Lúc này, trời tối và có mưa Q mở cửa xuống xe taxi, tay phải cầm theo thanh kiếm chuẩn bị từ trước chạy về phía xe của H. Bực tức về việc bị nhóm của Q dồn đuổi, H hạ kính xe xuống chỉ tay về phía Q và chửi. Thấy H chửi mình, Q cầm kiếm ở tay phải lao đến chém từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào nắp capo phía bên trái đầu xe ô tô của H. Thấy vậy, H kéo cửa kính xe lên, Q tiếp tục lao đến vung kiếm chém liên tiếp 2 - 3 cái trúng vào cửa kính xe phía trước bên lái. Để tránh không cho Q tiếp tục chém vào xe mình, H điều khiển xe ô tô đi về hướng UBND xã H. Khi H điều khiển xe đi ngang qua người Q thì Q tiếp tục vung kiếm chém từ trên xuống dưới trúng vào thành thùng xe phía sau bên trái đồng thời chạy đuổi theo để chém tiếp vào xe của H nhưng không kịp. Lúc này Công và hai người bạn của C cầm tuýp sắt, phóng lợn cũng chạy đến phía đầu xe của H. Sợ bị số người này đập phá xe nên H điều khiển xe đi chậm hướng thẳng về phía những người này để chặn lại. Thấy H điều khiển xe hướng về phía mình nên C và hai thanh niên đi cùng C bỏ chạy. Đi được một đoạn thì H vòng xe quay lại để Đức tiếp tục quay video, nhưng khi H vòng xe lại thì thấy Q đang cầm kiếm lao đến. Lúc này, H điều khiển xe đi chậm hướng về phía Q để chặn Q lại. Thấy vậy, Q lùi lại phía sau và vung kiếm chém liên tiếp 2 - 3 cái trúng vào cửa kính xe phía trước bên phải xe ô tô của H. Khi đuôi xe của H ngang qua người Q thì Q tiếp tục vung kiếm chém từ trên xuống dưới từ phải qua trái trúng vào ốp nhựa đèn hậu phía sau bên phải xe ô tô của H. H tiếp tục điều khiển xe đi một đoạn thì vòng quay lại và đi thẳng đến Công an trình báo sự việc. Sau khi sự việc xảy ra, C và hai người bạn của C đi taxi N về còn Q, Q, H và T cùng đi xe taxi T và xe máy của Q về phòng trọ của T ngủ tại đó.
Tại Cơ quan điều tra anh Dương Ngọc H đã trình báo về việc bị Nguyễn Hồng Q đập phá xe của mình như đã nêu trên đồng thời giao nộp chiếc xe ô tô Ford Ranger, biển kiểm soát 19C - 126.88 và đoạn video mà Âu Dương D quay bằng điện thoại di động có ghi lại hình ảnh Nguyễn Hồng Q đập phá xe cho cơ quan Công an để phục vụ công tác điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiếp nhận tin báo, tạm giữ chiếc ô tô và thu thập đoạn video Âu Dương D theo đúng trình tự Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của Dương Ngọc H, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện. Quá trình khám nghiệm hiện trường không phát hiện cũng như không thu giữ được dấu vết gì liên quan đến vụ án. Quá trình khám nghiệm chiếc xe ô tô biển kiểm sát 19C - 126.88 phát hiện các dấu vết sau: Vết móp, rách thủng ở nắp capo trước bên trái đầu xe; vè che mưa phía trên kính chắn gió ở cửa ghế lái bên trái có vết rách, vỡ nhựa; nẹp cao su ốp dưới kính chắn gió của ghế lái (mặt ngoài cửa) có vết rách cao su; mặt ngoài cánh cửa ghế lái có vết mài sát kim loại mất sơn màu trắng; mặt ngoài kính chắn gió cạnh ghế lái có vết mài xước mặt kính không rõ hình; mặt ngoài phía trên ốp nhựa thành thùng xe phía sau bên trái có vết rách nhựa; mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ đèn xe phía sau bên phải có vết nứt, vỡ nhựa không rõ hình; mặt ngoài kính chắn gió cửa trước bên phụ có vết mài xước kính không rõ hình dạng; mặt ngoài nẹp cao su ốp dưới kính chắn gió cửa trước bên phụ có vết lõm, vách cao su không rõ hình.
Ngày 27/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản để xác định giá trị giá thiệt hại của chiếc xe ô tô BKS 19C - 126.88. Tại bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 12/5/2020, Hội đồng định giá - Ủy ban nhân dân thị xã P kết luận giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô 19C - 126.88 là 22.200.000đ (Hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng). Kết luận định giá đã được thông báo cho Nguyễn Hồng Q và Dương Ngọc H. Anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường mà tự khắc phục, sửa chữa hư hỏng tài sản.
Ngày 28/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã khởi tố vụ án và ngày 04/6/2020, khởi tố bị can Nguyễn Hồng Q về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự.
Sau nhiều lần được triệu tập nhưng không có mặt tại địa phương, đến ngày 04/6/2020 Nguyễn Hồng Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Nguyễn Hồng Q khai nhận như sau: Do có mâu thuẫn với Dương Ngọc H và Nguyễn Văn Q nên tối ngày 22/4/2020 Q đã gọi điện cho H, T và Q để cùng đi đánh nhau với nhóm của H như đã nêu trên. Khi gọi điện thì Q chỉ rủ H, T và Q đi đánh nhau cùng mình, không bàn bạc cũng như không phân công nhiệm vụ cho ai. Q không rủ C và bạn của C cùng đi, khi đến điểm hẹn thì Q mới biết có C và hai người bạn của C cũng đi cùng và những người này mang theo hung khí. Sau đó cả nhóm đi tìm gặp H và Nguyễn Văn Q. Khi gặp được H do quá bức xúc nên Q đã dùng kiếm mang theo tiến tới định đánh nhau với H nhưng do H chỉ ngồi trên xe ô tô dùng tay hay cầm vật gì đó giống như súng (trời tối nên Q không nhìn chính xác vật này) chỉ về phía Q và chửi bới mà không xuống xe để giải quyết mâu thuẫn nên Q bức xúc đã dùng 01 chiếc kiếm có 01 lưỡi sắt dài khoảng 70 cm mang theo từ nhà chém nhiều lần vào nhiều vị trí xe ô tô của H để làm hư hỏng xe của H. Tại thời điểm sự việc xảy ra, do trời tối và mưa rất to, bản thân Q cũng đang rất bức xúc với H nên Q chỉ nhớ có khoảng 02-03 người cũng cầm theo phóng lợn, tuýp sắt cũng lao đến phía xe của H nhưng không rõ những người này là ai và có tham gia đập phá xe của H hay không. Sau khi sự việc xảy ra, Q về nhà của T ngủ và cầm theo chiếc kiếm dùng để đập phá xe của H. Ngày hôm sau, Q để lại chiếc kiếm trên tại nhà T rồi đến ở nhờ nhà một người bạn tại Phòng 205, chung cư H, thuộc xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 04/6/2020 thì Q đến trụ sở Công an để làm việc. Tại đây, Q tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng không gắn thẻ sim cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P để phục vụ công tác điều tra.
Cùng ngày 04/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tổ chức thực nghiệm điều tra để Nguyễn Hồng Q diễn tả lại hành vi dùng kiếm làm hư hỏng xe ô tô 19C - 126.88 của anh Dương Ngọc H. Kết quả thực nghiệm điều tra thể hiện Nguyễn Hồng Q đã dùng kiếm chém từ trên xuống dưới, mũi kiếm chếch hướng vào khoang xe trúng vào nắp capo của xe ô tô. Sau đó xe di chuyển Q đứng quay mặt vào xe ô tô, tay phải cầm kiếm vung lên chém liên tiếp 2-3 cái trúng vào vùng cửa kính phía trước bên lái. Chiếc xe tiếp tục di chuyển Q đứng nguyên vị trí cầm kiếm ở tay phải tiếp tục vung kiếm chém trúng vào thành thùng xe phía sau bên lái. Sau đó chiếc xe di chuyển qua vị trí của Q rồi vòng quay lại, khi chiếc xe đi đến hướng về phía Q thì Q lùi người lại sau và tiếp tục vung kiếm chém từ trên xuống dưới trúng vào cửa kính chắn gió phía trước bên phụ xe ô tô. Khi chiếc xe tiếp tục di chuyển phần đuôi xe ô tô đi qua ngang với người Q thì Q cầm kiếm ở tay phải vung lên chém trúng vào phần ốp nhựa bảo vệ đèn xe phía sau bên phải. Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Nguyễn Hồng Q khai nhận chỉ thực hiện lại được hành vi chém vào các vùng trên xe như trên chứ không nhớ chính xác từng vị trí cụ thể.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Hồng Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T tại Khu 1, xã P, thị xã P là nơi Q khai cất giấu thanh kiếm và khám xét khẩn cấp tại Phòng 205, Chung cư H, thuộc xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nơi Nguyễn Hồng Q ở sau khi thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Dương Ngọc H đến ngày 04/6/2020. Quá trình khám xét khẩn cấp Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 23/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định cơ chế hình thành dấu vết đối với các dấu vết trên chiếc xe ô tô Ford Ranger, biển kiểm soát: 19C - 126.88. Tại bản kết luận giám định số 676 ngày 20/7/2020, phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Dấu vết móp, rách, thủng kim loại tại ví trí mặt trên nắp capo, phía trước, bên trái đầu xe; dấu vết rách cao su tại vị trí nẹp cao su ốp dưới kính chắn gió cửa ghế lái; dấu vết rách nhựa tại ví trí mặt ngoài, phía trên ốp nhựa thành thùng xe phía sau bên trái hình thành do công cụ một lưỡi cắt (dạng dao, kiếm…) tạo ra. Các dấu vết còn lại không có đủ căn cứ để xác định các dấu vết này do loại công cụ gì tạo ra.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng Q khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã tác động gia đình để mẹ bị cáo đã bồi thường cho anh H 11.500.000đồng.Bị cáo giao nộp cho cơ quan Công an chiếc điện thoại Iphone 5S, màu trắng. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà là mẹ bị cáo. Bà không biết bị cáo cố ý làm hư hỏng tài sản. Tối ngày 22/4/2020, bị cáo lấy xe mô tô của bà đi không nói gì với bà. Sau khi chuộc lại xe do bị cáo cầm cố bà đã đi đăng ký xe tên bà và giao nộp cho Công an. Bị cáo đã tác động gia đình và bà đã bồi thường 11.500.000đồng cho anh H. Bà cho bị cáo số tiền trên, không đề nghị gì. Bà đã nhận lại xe mô tô và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKS-TXPT ngày 14/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị can Nguyễn Hồng Q về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 178, điểm b, s khoản 1điều 51, khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hồng Q từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 04/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự:
Xác nhận bà Nguyễn Thị C thay bị cáo Nguyễn Hồng Q bồi thường cho anh Dương Ngọc H số tiền 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) là hợp pháp.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, số IMEI: 352028062137042, máy không lắp thẻ sim;
Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Dương Ngọc H là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu cam, biển kiểm soát: 19C - 126.88 là hợp pháp;
Xác nhận Viện kiểm sát nhân dân thị xã P đã trả cho bà Nguyễn Thị C là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng, đen, bạc BKS 19M1 - 250.07 là hợp pháp.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Hồi 22 giờ 35 phút, ngày 22/4/2020, tại khu vực Km5, thuộc xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Hồng Q đã sử dụng 01 thanh kiếm có một lưỡi sắc dài khoảng 70 cm chém nhiều nhát vào xe ô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 19C - 126.88 của anh Dương Ngọc H. Hậu quả, xe của anh H bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại 22.200.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...”
Trong vụ án này, nhóm của Nguyễn Hồng Q mang theo hung khí dồn đuổi theo xe của nhóm Dương Ngọc H trên đường vào tối ngày 22/4/2020, tuy nhiên hành vi trên không diễn ra ở khu vực đông dân cư và chỉ diễn ra trong thời gian ngắn chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P không xử lý những người trong nhóm của Q và những người trong nhóm của H về tội “Gây rối trật tự công cộng ” mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.
Đối với Lê Xuân H, Nguyễn Xuân T và Nguyễn Minh Q được Nguyễn Hồng Q gọi điện thoại rủ đi tìm đánh Dương Ngọc H và Nguyễn Văn Q. Do quen biết xã hội, chơi với nhau nên H, Q và T đã đồng ý đi cùng Q. Khi đi Q còn rủ thêm Nguyễn Văn C. Những người này khi gặp Nguyễn Hồng Q thì không có sự bàn bạc, thống nhất hay phân công nhiệm vụ gì. Mục đích nhóm của Q lúc đầu là đi đánh nhau với nhóm của H nhưng khi gặp nhóm của H thì do trời mưa to H chỉ ngồi trên xe không xuống và thấy Q xuống xe trực tiếp giải quyết mâu thuẫn nên H, T và Q không tham gia đập phá hay giúp sức gì cho Q. Việc Nguyễn Hồng Q dùng kiếm chém gây hư hỏng chiếc xe ô tô của anh H là bột phát, do một mình Q trực tiếp thực hiện. Vì vậy H, T và Q không đồng phạm với Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn C khi được Nguyễn Minh Q rủ đi thì C có rủ thêm hai người bạn của mình đi cùng. Khi đi C và hai người bạn của mình (quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi địa chỉ của hai người này) có mang theo tuýp sắt, phóng lợn. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn C nhiều lần nhưng C không đến làm việc. Qua xác minh C không có mặt tại địa phương, bản thân C đi đâu làm gì gia đình và chính quyền địa phương không quản lý được. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P cũng chưa có thông tin để xác định hai đối tượng đi cùng C. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với C, khi nào triệu tập được C, làm rõ hành vi của C và hai đối tượng đi cùng vào tối ngày 22/4/2020 sẽ đề cập xử lý sau là phù hợp.
Đối với Dương Ngọc H khi xảy ra sự việc H có hò hét, chửi nhóm của Nguyễn Hồng Q, điều khiển xe chặn đầu xe taxi chở Q. Quá trình điều tra Dương Ngọc H khai nhận việc H hò hét, chửi nhóm của Q là do bức xúc khi bị nhóm của Q dồn đuổi. Việc H điều khiển xe ô tô chặn đầu xe taxi chở Q đi và vòng đi vòng lại nhiều lần trên đường với tốc độ chậm nhằm mục đích để Âu Dương D quay video lại sự việc trình báo đến cơ quan công an không có ý định gây thiệt hại sức khỏe, tính mạng cho người khác. Do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý, mà nhắc nhở rút kinh nghiệm là phù hợp.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hồng Q khai khi xảy ra sự việc Dương Ngọc H có cầm một vật gần giống súng chĩa về phía Q. Tuy nhiên khi làm việc với Cơ quan điều tra H khai khi đó không sử dụng hung khí hay công cụ hỗ trợ gì mà dùng tay chỉ về phía Q. Ngoài lời khai của Nguyễn Hồng Q không có tài liệu gì khác chứng minh việc H sử dụng súng. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với hai chiếc taxi hãng T và N mà các đối tượng thuê, sử dụng dồn đuổi nhóm của H trong tối ngày 22/4/2020, quá trình điều tra các đối tượng khai đều không biết tên, tuổi, địa chỉ của lái xe cũng như biển kiểm soát của xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã đã tiến hành xác minh tại Công ty TNHH T và Công ty TNHHTM N. Tuy nhiên cả hai hãng taxi đều không xác định được lái xe và phương tiện liên quan do vậy không có cơ sở để xác minh, xem xét xử lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P không đề cập xử lý là phù hợp.
.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, hiểu biết xã hội và pháp luật nhưng vì một số mâu thuẫn cá nhân, không kìm chế được bản thân dẫn đến có hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác. Bị cáo là người có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được xóa án tích, bị xử phạt hành chính về ma túy và bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo vì trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình để khắc phục 1 phần hậu quả do bị cáo gây ra. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Với mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P là phù hợp, mức án đó mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 178 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000dồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra xác định giá trị thiệt hại về tài sản của bị hại là 22.200.000đồng. Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục 1 phần thiệt hại với số tiền 11.500.000đồng và bị hại đã nhận số tiền trên nên cần xác nhận. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về vật chứng và các đồ vật tài liệu liên quan:
Đối với chiếc kiếm Nguyễn Hồng Q sử dụng để gây hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 19C - 126.88, Q khai cất tại phòng trọ của Nguyễn Xuân T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ được chiếc kiếm này.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu cam, biển kiểm soát: 19C
- 126.88 bị Q làm hư hỏng kết quả điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là Dương Ngọc H. Sau khi phục vụ công tác điều tra, xét thấy việc trả lại chiếc xe trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 23/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là phù hợp cần xác nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị C (mẹ đẻ của Nguyễn Hồng Q) đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu: trắng, đen, bạc mà Q sử dụng ngày 22/4/2020 để đi dồn đánh nhóm của H. Tại thời điểm Q sử dụng, chiếc xe này chưa gắn biển kiểm soát do bà C mua xe trả góp chưa đăng ký xe. Sau khi xảy ra sự việc Q mang theo chiếc xe đi xuống thành phố Việt Trì, sau đó gọi điện hỏi ý kiến bà C cầm cố chiếc xe trên để lấy tiền tiêu xài và thông báo nơi cầm cố để bà C đến chuộc xe về. Sau khi chuộc chiếc xe trên từ hiệu cầm đồ và bà C đã làm thủ tục đăng ký xe đối với chiếc xe và được cấp biển kiểm soát: 19M1 - 250.07 thì bà C đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản của bà C, ngày 22/4/2020 Q tự ý lấy chiếc xe trên của bà để sử dụng, bà C không biết việc Q sử dụng chiếc xe của mình vào việc gì. Xét thấy việc trả lại chiếc xe trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã P đã trả lại chiếc xe trên cho bà C cần xác nhận.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, số IMEI: 352028062137042, máy không lắp thẻ sim tạm giữ của Nguyễn Hồng Q kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại này của Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 178, điểm b, s khoản 1điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Q (tên gọi khác: Q Lích) phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; phạt Nguyễn Hồng Q 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 04/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự:
Xác nhận bà Nguyễn Thị C thay bị cáo Nguyễn Hồng Q bồi thường cho anh Dương Ngọc H số tiền 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) là hợp pháp.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, số IMEI: 352028062137042, máy không lắp thẻ sim;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P ngày 14/8/2020)
Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Dương Ngọc H là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu cam, biển kiểm soát: 19C - 126.88 là hợp pháp;
Xác nhận Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã trả cho bà Nguyễn Thị C là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng, đen, bạc BKS 19M1 - 250.07 là hợp pháp.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -VKSND thị xã, tỉnh; -Công an thị xã; -Trại tạm giam; -Sở tư pháp; -Bị cáo; Bị hại; Người CQLNVLQ; -THAHS, THADS; -Lưu hồ sơ; -Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thu Hiền |