vanban.org

Bản án 46/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 1 Điều 1 3, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 .

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm c p tài sản . Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt t được tính kể từ ngày 19/3/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 1 3, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 .
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HS-ST
Ngày: 07-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải.

Ông Nguyễn Viết Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Cẩm Hừng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2020/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2020/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Quốc V (chết) và bà Đỗ Thị M; có 02 chị em, bị cáo nhỏ nhất; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 0 /9/201 , bị T a án nhân dân thành phố Cao nh xử phạt 02 năm t về tội Trộm c p tài sản , chấp hành xong ngày 01/02/2020.

Nhân thân:

Ngày 1 /11/2011, bị T a án nhân dân thành phố Cao nh xử phạt 01 năm 0 tháng t về tội Cướp tài sản , chấp hành xong ngày 2 /11/2012;

Ngày 0 / /201 , bị T a án nhân dân thành phố Cao nh xử phạt 01 năm 0 tháng t về tội Trộm c p tài sản , chấp hành xong ngày 09/10/2015.

B t tạm giam: Ngày 19/3/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có mặt tại phiên t a.

Bị hại:

1. Phạm Thanh , sinh năm 19 ;

Địa chỉ: Số A, D, khóm MT, phường MP, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1995;

Địa chỉ: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố C , tỉnh Đồng Tháp.

3. Trần Văn Đ, sinh năm 19 ;

Địa chỉ: Số B, Quốc lộ C, khóm MT, phường MP, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.

4. Nguyễn Văn O, sinh năm 195 ;

Địa chỉ: Tổ Z, khóm X, Phường C, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn TH, sinh năm 19 ;

Địa chỉ: Khóm MĐ, Phường M, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.

Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Nguyễn Văn T có 01 tiền án về tội Trộm c p tài sản, chấp hành xong ngày 01/02/2020, chưa được xóa án tích. Vào các ngày 19/02/2020, 20/02/2020 và 04/3/2020, T thực hiện hành vi trộm c p tiền và điện thoại di động c a người dân trên địa bàn thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, với tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt là . 00.000đồng, cụ thể như sau:

Vụ th nh t: Vào khoảng 02 giờ 10 phút ngày 19/02/2020, Nguyễn Văn T đi bộ xung uanh khu vực phường MP, thành phố CL để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến trước nhà c a ông Phạm Thanh sinh năm 19 , tại Số A, LD, khóm MT, phường MP, thành phố CL, T lén lút, leo ua hàng rào, đột nhập vào bên trong phát hiện ông L đang ng trên nền gạch ở phía trước nhà, kế bên 01 cái uần dài nên d ng tay lấy trộm rồi nhanh chóng tẩu thoát ra ngoài. T đi bộ đến khu vực cầu Đình Trung lụt soát bên trong uần phát hiện số tiền 1.200.000đồng và một chìa khóa nên chiếm đoạt số tiền rồi ném bỏ chiếc uần c ng chìa khóa xuống sông Đình Trung. Đến 0 giờ c ng ngày, ông L phát hiện tài sản bị mất nên đến Công an Phường MP trình báo. Công an Phường MP tiếp nhận sự việc và chuyển cho Cơ uan điều tra Công an thành phố Cao nh giải uyết theo thẩm uyền.

Trong uá trình điều tra, Cơ uan điều tra tiến hành truy tìm chiếc uần và chìa khóa mà T đ ném xuống sông Đình Trung nhưng không tìm thấy.

Qua làm việc với ông L, ông L không yêu cầu T trả lại số tiền bị chiếm đoạt c ng như bồi thường những thiệt hại khác.

Vụ th hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 20/02/2020, Nguyễn Văn T đi bộ từ Phường V đến khu vực công viên Văn Miếu thuộc Phường A, thành phố CL để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến uán cà phê Phương Th trên đường Đặng Văn B thuộc khóm B, phường A, thành phố CL, T uan sát thấy chị Nguyễn Thị Thảo N sinh năm 1995 đang ng say trong uán nên lén lút tr o ua hàng rào lưới B 0 c a uán, đột nhập vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. Tại khu vực chị N đang ng , T phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Prime, màu tr ng nên lén lút chiếm đoạt, bỏ vào túi uần rồi tr o ra ngoài tẩu thoát. Sau khi lấy trộm điện thoại di động c a chị N, T tiếp tục đi bộ về khu vực đường ê Văn T thuộc khóm N, phường A, thành phố CL nhìn thấy anh Trần Văn Đ sinh năm 19 , ngụ Số B, Quốc lộ C, khóm MT, phường MP, thành phố CL đang ng say trong m ng tại lề đường để trông coi vật liệu xây dựng c a công trình xây dựng nhà, để điện thoại di động hiệu Sang sung Prime, màu đen trên đầu n m nên T lén lút đi lại d m ng lấy trộm chiếc điện thoại rồi tẩu thoát. Đến sáng c ng ngày, chị N và anh Đ phát hiện tài sản bị mất trộm nên đ đến Công an Phường A trình báo. Công an Phường A tiếp nhận sự việc và chuyển cho Cơ uan điều tra Công an thành phố Cao nh giải uyết theo thẩm uyền.

Trong uá trình điều tra, T khai nhận hành vi phạm tội c a mình và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Prime, màu tr ng đ lấy trộm c a chị N và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Prime, màu đen đ lấy trộm c a anh Đ cho Cơ uan điều tra xử lý.

Căn c Kết luận định giá tài sản số 30/K -ĐGTS ngày 05/3/2020 c a Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự, kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Prime, màu tr ng có giá 1.000.000đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung

Prime, màu đen có giá 00.000đồng;

Tổng giá trị tài sản là 1. 00.000 đồng.

Cơ uan điều tra đ trả lại điện thoại di động cho chị N và anh Đ, chị N và anh Đ nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Vụ th ba: Khoảng 01 giờ ngày 0 /03/2020, Nguyễn Văn T vì muốn có tiền tiêu xài nên một mình đi bộ từ khu vực Phường N đến Phường M, thành phố CL để tìm tài sản lấy trộm. Đến 02 giờ 5 phút, T đi bộ đến cơ sở rửa xe ô tô Tấn N thuộc tổ Q, khóm MH, phường M, thành phố C thì thấy ông Nguyễn Văn O sinh năm 195 , ngụ Tổ Z, khóm X, Phường C, thành phố CL đang ng trên ghế xếp ở bên trong tiệm rửa xe, bên ngoài cơ sở có hàng rào lưới B 0, phía dưới chân hàng rào có khoảng trống cao khoảng 30cm. T chui ua khoảng trống, lại gần chỗ ông O ng uan sát, phát hiện điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen c a ông O đang sạc pin để trên đầu n m. T lén lút rút dây sạc, chiếm đoạt điện thoại rồi tẩu thoát. Đến khoảng 0 giờ c ng ngày, T mang điện thoại trộm được c a ông On đến uán cháo c a ông Nguyễn Văn TH tại bến xe Buýt thuộc phường N, thành phố CL nói dối là điện thoại nhặt được và bán cho ông TH với giá 00.000đồng, ông TH đồng ý mua. Qua làm việc, ông TH khai nhận có mua chiếc điện thoại Samsung c a T nhưng không biết đây là tài sản do T trộm được mà có và tự nguyện giao nộp cho cơ uan Công an để xử lý. iêng ông O, sau khi phát hiện mất tài sản đ đến Công an Phường M trình báo vào lúc 0 giờ 15 phút c ng ngày. Công an Phường M tiếp nhận sự việc và chuyển cho Cơ uan điều tra Công an thành phố Cao nh giải uyết theo thẩm uyền.

Căn c Kết luận định giá tài sản số 35/K -ĐGTS ngày 09/3/2020 c a Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen có giá 2.000.000đồng. Cơ uan điều tra đ trả lại điện thoại di động cho ông O, ông O nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Trong uá trình điều tra, bị cáo đ khai nhận hành vi c a mình như đ nêu trên, ph hợp với lời khai c a người bị hại, lời khai người có uyền lợi, ngh a vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật ch ng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, ch ng c khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với ông Nguyễn Văn TH mua điện thoại di động c a T nhưng không biết đây là tài sản do trộm c p mà có và đ tự nguyện giao nộp cho Cơ uan Công an nên không đề cập xử lý. Đồng thời, ông TH c ng không yêu cầu T trả lại số tiền 00.000 đồng mà ông đ mua điện thoại c a T nên không xem xét giải uyết.

Bản cáo trạng số 3/CT-VKSND-TPCL, ngày 03 tháng 6 năm 2020 c a Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao nh đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Trộm c p tài sản theo uy định tại khoản 1 Điều 1 3 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao nh giữ nguyên uyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đ nêu.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 1 3; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 , xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 0 tháng t .

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đ nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm và người có uyền lợi ngh a vụ liên uan không yêu cầu nhận lại số tiền 00.000đồng nên không đặt ra xem xét.

Về vật ch ng: Đ xử lý xong.

Bị cáo nói lời nói sau c ng: Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, uyết định tố tụng c a Cơ uan điều tra Công an thành phố Cao nh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao nh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong uá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm uyền, trình tự, th tục uy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại, người có uyền lợi, ngh a vụ liên uan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, uyết định c a Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, uyết định tố tụng c a Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Văn T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. ời khai c a bị cáo tại phiên t a ph hợp với lời khai c a bị cáo tại cơ uan điều tra, lời khai người bị hại, người có uyền lợi, ngh a vụ liên uan và ph hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Đây là vụ án Trộm c p tài sản do Nguyễn Văn T thực hiện. Nguyễn Văn T có 01 tiền án về tội Trộm c p tài sản, chấp hành xong ngày 01/02/2020, chưa được xóa án tích. Vào các ngày 19/02/2020, 20/02/2020 và 0 /3/2020, trên địa bàn thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, T thực hiện hành vi trộm c p 1.200.000 đồng c a ông Phạm Thanh L và 03 điện thoại di động c a chị Nguyễn Thị Thảo N, anh Trần Văn Đ và ông Nguyễn Văn O. Tổng giá trị tài sản bị T chiếm đoạt là . 00.000đồng, trong đó có 01 lần chiếm đoạt tài sản có giá trị 2.000.000 đồng.

Trong uá trình điều tra, T đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình ph hợp với lời khai c a bị hại, người có uyền lợi, ngh a vụ liên uan, biên bản vụ việc, vật ch ng thu giữ, biên bản tiếp nhận nguồn tin, lời khai người làm ch ng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đ cơ sở kết luận, hành vi c a bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm c p tài sản tội phạm và hình phạt được uy định tại khoản 1 Điều 1 3 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 201 .

Điều 1 3 Bộ luật Hình sự uy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…

Hành vi phạm tội c a bị cáo đ xâm phạm đến uyền sở hữu về tài sản c a công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, làm mất trật tự, an toàn x hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ uy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 , nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có 01 tiền án: Ngày 0 /9/201 , bị T a án nhân dân thành phố Cao nh xử phạt 02 năm t về tội Trộm c p tài sản , chấp hành xong ngày 01/02/2020, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội, nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là tái phạm theo uy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 .

[ ] Bị cáo Nguyễn Văn T là người đ thành niên có đ năng lực trách nhiệm hình sự; đ khả năng nhận th c được hành vi c ng như hậu uả do hành vi c a bị cáo thực hiện; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến uyền sở hữu tài sản hợp pháp c a người khác được pháp luật bảo vệ; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác c a ch sở hữu tài sản bị cáo đ lấy trộm tài sản c a bị hại. Bản thân bị cáo đ nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà nay tiếp tục thực hiện hành vi trộm c p tài sản c a người khác điều đó cho thấy sự xem thường pháp luật c a bị cáo. Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho x hội.

Xét thấy, cần áp dụng m c hình phạt nghiêm kh c để cách ly bị cáo ra khỏi x hội một thời gian, nh m để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, giáo dục, ph ng ngừa chung trong toàn x hội.

Về trách nhiệm dân sự: Trong uá trình điều tra, bị hại đ nhận lại tài sản; bị hại và người có uyền lợi, ngh a vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật ch ng: Đ xử lý xong.

[ ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm được uy định tại Điều 13 c a Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị uyết số 32 /201 /UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 201 c a Ủy ban thường vụ Quốc hội uy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý và sử dụng án phí và lệ phí t a án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 1 Điều 1 3, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201 .

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm c p tài sản .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt t được tính kể từ ngày 19/3/2020.

Trách nhiệm dân sự: Không giải uyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có uyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại v ng mặt tại phiên t a có uyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Người có uyền lợi, ngh a vụ liên uan v ng mặt tại phiên toà có uyền kháng cáo bản án về phần trực tiếp liên uan đến uyền lợi c a mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ