vanban.org

Bản án 46/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt Hoàng Quốc T 30(Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60(Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG QUỐC T - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HS-ST
Ngày: 28 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Đình Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2020/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Quốc T; sinh ngày 21/4/1984; tại xã T, huyện TT, Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn TL, xã T, huyện TT, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Quốc P, sinh năm 1956 và bà Diệu Thị H, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

* Bị hại:

Anh: Lê Văn Q – Sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn TL, xã T, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn N - Sinh năm: 1973; vắng mặt.

2. Ông Lê Văn Tr – Sinh năm 1958; có mặt.

3. Bà Bùi Thị Nh - Sinh năm 1971; vắng mặt.

4. Chị Trương Thị H – Sinh năm 1990; vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn TL, xã T, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/3/2020, Hoàng Quốc T, sinh năm 1984, trú tại thôn TL, xã T đến nhà ông Lê Văn Q, sinh năm 1968 ở cùng thôn để nhờ ông Q đi làm công thì giữa T và ông Q xảy ra mâu thuẫn, chửi bới qua lại với nhau. Do bực tức, T lấy chiếc điều cày bằng luồng có sẵn trong nhà ông Q đánh vào mặt, đầu, người ông Q làm ông Q ngã sấp xuống nền nhà, T tiếp tục dùng chiếc điếu thúc vào ngực ông Q gây thương tích. Sau khi đánh ông Q, T để chiếc điếu lại hiện trường rồi bỏ đi về.

Về phần ông Q, sau khi bị đánh đã được người nhà phát hiện, đưa đến trạm y tế xã T cấp cứu rồi chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị thương tích. Sau đó, ông Lê Văn Tr (anh trai ông Q) đã làm đơn trình báo sự việc đến cơ quan Công an đề nghị giải quyết theo quy định.

Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, dấu vết tội phạm, kiểm tra thương tích trên người của bị hại và tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh theo quy định.

Theo kết quả khám thương ban đầu và hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa xác định ông Q bị các thương tích như sau:

- Vết sưng nề bầm tím, sưng nề quanh hố mắt trái, kích thước (2,5 x 6)cm;

- Vết xây xước da, bầm tím tại vùng gò má trái, kích thước (2 x 2)cm;

- Vết thương dài 2cm vùng thái dương trái đã khâu, xử lý;

- Vùng ngực phải sưng nề, bầm tím, kích thước (9 x 5)cm;

- Vết bầm tím, sưng nề tại vùng bả vai trái, kích thước (10 x 9)cm;

- Vết bầm tụ máu tại vùng hông bên trái, kích thước (11 x 8)cm;

- Vết bầm tím tại vùng mông phía trên bên trái, kích thước (5 x 5)cm;

- Vết bầm tím, sưng nề tại vùng lưng bên trái, kích thước (6 x 5)cm;

- Vết bầm tím, sưng nề tại vùng lưng bên phải, kích thước (8 x 7)cm;

- Vết bầm tím tại vùng mông bên phải, kích thước (10 x 8)cm;

- Kết quả chụp Xquang, chụp CLVT sọ não xác định:

+ Mờ xoang sàng và tụ dịch xoang hàm bên trái;

+ Hình ảnh gãy xương sàng bên trái. Hình khí ở hố mắt trái;

+ Nghi gãy xương sườn 2 phải.

Kết quả giám định pháp y về thương tích tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 168/2020/TTPY và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung về cơ chế hình thành thương tích số 169/2020/TTPY ngày 25/3/2020 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Văn Q là 26%; các vết thương của ông Q do ngoại lực tác động, tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh; chiếc điều cày thu giữ nếu được sử dụng làm vật gây thương tích thì có thể tạo nên các vết thương của ông Q.

Quá trình giải quyết vụ việc Hoàng Quốc T đã nghiêm chỉnh chấp hành việc triệu tập của Cơ quan điều tra và thành khẩn khai nhận hành vi đánh ông Q gây thương tích như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể người bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Cũng trong quá trình điều tra, Hoàng Quốc T đã tự nguyện thăm hỏi, thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu cho người bị hại và được người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng vụ án: Thông qua việc tiếp nhận nguồn tin và khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 chiếc điếu cày bằng luồng, hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 05cm, điếu đã bị dẫm vỡ tại phần miệng điếu, đuôi điếu có cuộn dây cao su màu đen, không có nỏ.

- 01 chiếc nỏ điếu cày bằng gỗ dài 09cm, đường kính phần nhỏ là 1,2cm, phần lớn là 4,3cm.

Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Hoàng Quốc T đã tự nguyện bồi thường cho ông Q số tiền 50.000.000đồng, ông Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác.

Tại bản Cáo trạng số 48/CTr-VKS-TT ngày 01/9/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hoàng Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 65 BLHS đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hoàng Quốc T từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc điếu cày bằng luồng, hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 05cm, điếu đã bị dẫm vỡ tại phần miệng điếu, đuôi điếu có cuộn dây cao su màu đen, không có nỏ và 01 chiếc nỏ điếu cày bằng gỗ dài 09cm, đường kính phần nhỏ là 1,2cm, phần lớn là 4,3cm. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị hại trình bày, sau khi bị Toản đánh gây thương tích quá trình bị hại điều trị thương tích, bị cáo và gia đình đã qua lại thăm hỏi, chăm sóc bị hại tận tình, chu đáo; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại theo yêu cầu. Bị hại đã có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn, hối cải; bị cáo xin lỗi người bị hại và gia đình. Bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị hại và bị cáo không có ý kiến gì đối với Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 168/2020/TTPY và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung về cơ chế hình thành thương tích số 169/2020/TTPY ngày 25/3/2020 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/3/2020, tại nhà ông Lê Văn Q ở thôn TL, xã T xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, chửi bới và xô đẩy nhau giữa Hoàng Quốc T và ông Q. Do bực tức, T đã lấy chiếc điếu cày có sẵn trong nhà đánh liên tiếp vào mặt, đầu, người và thúc vào ngực ông Q gây thương tích, làm ông Q tổn thương cơ thể 26%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”; khi gây thương tích cho ông Q, bị cáo đã dùng chiếc điếu cày là vật tày, cứng là hung khí nguy hiểm do đó có đủ cơ sở xác định bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ là “Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo “Được người bị hại đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự” và xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bố của bị cáo là người có công với cách mạng 02 lần được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công, đây là các tình tiết giảm nhẹ được chấp nhận theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo đã tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương nơi cư trú cũng đủ để giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cũng như thể hiện tính công bằng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng). Do bị cáo và người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điếu cày bằng luồng, hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 05cm, điếu đã bị dẫm vỡ tại phần miệng điếu, đuôi điếu có cuộn dây cao su màu đen, không có nỏ và 01 chiếc nỏ điếu cày bằng gỗ dài 09cm, đường kính phần nhỏ là 1,2cm, phần lớn là 4,3cm đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Hoàng Quốc T 30(Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60(Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc điếu cày bằng luồng, hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 05cm, điếu đã bị dẫm vỡ tại phần miệng điếu, đuôi điếu có cuộn dây cao su màu đen, không có nỏ và 01 chiếc nỏ điếu cày bằng gỗ dài 09cm, đường kính phần nhỏ là 1,2cm, phần lớn là 4,3cm đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.

Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: bị cáo Hoàng Quốc Toản phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bị hại. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ