- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS-ST Ngày: 28-9-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành
Ông Đỗ Công Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2020/HS- ST ngày 11 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Huỳnh T, sinh năm 1959 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 9, Tây N, phường Vĩnh H, thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Không có chỗ ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh M (đã chết) và bà Trần Thị A (đã chết); vợ: Trần Thị R, sinh năm 1970; có 01 con sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện D K; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Thái Minh D, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn Đông D, xã Diên T, D K, Khánh Hòa;
Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
.
* Người làm chứng:
- Thái Minh Ph, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn Đông D, xã Diên T, D K, Khánh Hòa.
- Nguyễn Hữu Ph1, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Thôn Đông D, xã Diên T, D K, Khánh Hòa.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 17 giờ ngày 04/8/2020, Huỳnh T (không có nơi ở nhất định) bắt xe buýt đi từ thành phố N T đến địa bàn huyện D K tìm tài sản để trộm cắp. Khoảng 01 giờ ngày 05/8/2020,T đi bộ ngang qua nhà anh Thái Minh D (trú tại thôn Đông D, xã Diên T, D K) thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wary, loại xe Wave màu xám - đen biển kiểm soát: 79L8-2557 của anh D đang dựng trong sân nhà, không có người trông coi. T đi bộ vào trộm cắp xe mô tô rồi dắt bộ ra đường Quốc lộ 1A thì gặp anh Nguyễn Hữu Ph1, anh Thái Minh Ph phát hiện, truy hô và đuổi theo, T để lại xe mô tô rồi bỏ chạy được một đoạn thì bị vấp ngã, lúc này Ph và Ph1 đuổi kịp giữ bắt T, sau đó trình báo công an xã Diên T. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D K kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát: 79L8-2557 có giá trị là 2.750.000 đồng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D K, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Bản cáo trạng số 45/CT-VKSDK ngày 10/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K truy tố bị cáo Huỳnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2020. Về trách nhiệm dân sự: Anh Thái Minh D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Về vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Wary, loại xe Wave màu xám - đen, BKS: 79L8-2557 đã trả lại cho chủ sở hữu anh Thái Minh D nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ơ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D K, Điều Tra Viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện D K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Bị hại, người làm chứng đều vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ; căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 01 giờ ngày 05/8/2020, Huỳnh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô hiệu Wary, loại xe Wave màu xám - đen, BKS: 79L8-2557 có giá trị là 2.750.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên bản Cáo trạng số 45/CT-VKSDK ngày 10/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh T: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh, trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên bị cáo vẫn thực hiện để kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo không có nơi cư trú ổn định. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; được bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo để an tâm cải tạo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Wary, loại xe Wave màu xám - đen, BKS: 79L8-2557 đã trả lại cho chủ sở hữu anh Thái Minh D nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. 1. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2020. 2. Án phí: Bị cáo Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện D K; - Công an huyện D K; - Chi cục THADS huyện D K; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Hoa |