vanban.org

Bản án 46/2020/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Lê Thị Lệ H

Xử: Buộc bà Lê Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 138.787.282đ; Trong đó, nợ gốc là 51.731.514đ; tiền lãi quá hạn 86.455.768đ (lãi tính đến ngày 29/9/2020). Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Lê Thị Lệ H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Lê Thị Lệ H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/DSST
Ngày: 29.9.2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
[[[

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Lưu Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Thảo

Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 29.9.2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2020/TLST-DS ngày 29.05.2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐXXST-DS ngày 03.9.2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2020/QĐST-DS, ngày 21.9.2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần S. Địa chỉ trụ sở tại 266-268 N, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Ng; chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phan Minh Nh; chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ (theo Giấy ủy quyền số 298/2020/UQ-CNĐN ngày 28.9.2020 của ông Hoàng Thanh H1 là Giám đốc Ngân hàng TMCP S

- Chi nhánh Đà Nẵng) (có mặt).

- Bị đơn: Bà Lê Thị Lệ H, sinh năm 1962; Địa chỉ: K313/39 đường N, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 28.5.2015, bà Lê Thị Lệ H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích: tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện 19 giao dịch với tổng số tiền 93.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 51.602.526 đồng. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01.02.2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29.9.2020, bà H còn nợ ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc 51.731.514đ; Lãi quá hạn 86.455.768đ; Tổng cộng 138.187.282đ. Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nêu trên.

Bị đơn bà Lê Thị Lệ H, mặc dù Toà án đã gửi thông báo thụ lý nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn; thông báo phiên hòa giải đúng thủ tục tố tụng nhưng bà Lê Thị Lệ H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Lê Thị Lệ H tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Lệ H.

Về nội dung: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28.05.2015, Ngân hàng TMCP S - chi nhánh Đà Nẵng có cấp cho bà Lê Thị Lệ H thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn theo quy định từng thời kỳ và Quyết định mức lãi suất của Ngân hàng; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Căn cứ vào bảng tính chi tiết được cập nhất trên hệ thống phần mềm của Ngân hàng, bà Lê Thị Lệ H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 93.000.000 đồng; Nay bà H còn nợ ngân hàng số tiền gốc: 51.731.514đ; lãi quá hạn từ ngày 31/8/2015 đến ngày 29/9/2020 là 86.455.768đ; tổng cộng 138.787.282đ. Ngày 01.02.2017, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dự nợ gốc còn thiếu sang nợ quá hạn bao gồm toàn bộ số tiền giao dịch cộng với tiền lãi quá hạn. Nay bà Lê Thị Lệ H còn nợ số tiền gốc 51.731.514 đồng; tiền lãi quá hạn là 86.455.768đ; tổng cộng số tiền 138.787.282đ.

Qua nhiều lần Ngân hàng làm việc, nhắc nhở nhưng bà Lê Thị Lệ H vẫn không có thiện chí trả nợ. Như vậy, bà Lê Thị Lệ H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm phương thức trả nợ gốc và nợ lãi mà các bên đã ký kết tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Lê Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ trên.

Xét yêu cầu của Nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Đối với phần dư nợ phải trả, tiền lãi được tính trên dự nợ thực tế của Chủ thẻ và thời gian vay thực tế. Tiền lãi được tính theo ngày, được cộng dồn và ghi nợ vào ngày sao kê.

Đối với dự nợ các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ: Chậm nhất vào ngày đến hạn thanh toán nếu chủ thẻ thanh toán thành công toàn bộ dự nợ cuối kỳ được thông báo trên sao kê thì Ngân hàng sẽ miễn lãi cho toàn bộ dư nợ của các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, giao dịch thu phí, giao dịch thu lãi phát sinh trong kỳ sao kê của chủ thẻ.

Đối với dư nợ các giao dịch phải trả: Do trong kỳ khách hàng không thanh toán toàn bộ dự nợ cuối kỳ được thông báo trên sao kê, vì vậy Ngân hàng không miễn lãi của phí theo quy định mà tính lãi toàn bộ phí các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, giao dịch thu phí, giao dịch thu lãi phát sinh trong kỳ sao kê của chủ thẻ. Như vậy, kể từ ngày 31/10/2016 bà H đã không thanh toán khoản dư nợ cuối kỳ nên tiền lãi quá hạn được tính kể từ ngày 31/10/2016 trên số tiền gốc là 51.731.514 đồng là hoàn toàn có cơ sỡ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bà Lê Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng số tiền: 138.787.282đ; Trong đó, nợ gốc là 51.731.514đ; tiền lãi quá hạn 86.455.768đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471, 474, 475 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 1, 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Về án phí DSST: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu trên số tiền phải trả 138.787.282đ x 5% = 6.939.364đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 471, 472, 473, 474 Bộ luật dân sự 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1; 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Lê Thị Lệ H

Xử: Buộc bà Lê Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 138.787.282đ; Trong đó, nợ gốc là 51.731.514đ; tiền lãi quá hạn 86.455.768đ (lãi tính đến ngày 29/9/2020).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: 6.939.364đ (sáu triệu chín trăm ba mươi chín ngàn ba trăm sáu mươi bốn đồng) bà Lê Thị Lệ H phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 3.142.678đ (ba triệu, một trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi tám đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0001999 ngày 28 tháng 5 năm 2020.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ