- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyen Thanh T, Le Văn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận háng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của các bị đơn, Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của T a án nhân dân huyện T, tỉnh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 04/3/2020. V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu;
Các Thẩm phán:
Ông Mai Hoàng Khải.
Bà Trần Thị Kim Em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trinh,Th
T a án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 tháng 02 và ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 35/2020/TLPT-DS ngày 02/01/2020 về việc tranh chấp: “Bồi th ờng thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của T a án nhân dân huyện Tân Ph ớc, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo, háng nghị.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐ-PT ngày 14/01/2020 giữa các đ ơng sự:
*Nguyên đơn: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.
*Bị đơn:
- Lê Văn V, sinh năm 1964 (có mặt).
- Võ Thị P, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.
- Lê Thị L, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.
*Ng ời háng cáo: Bị đơn Lê Văn V, Võ Thị P, Lê Thị L.
*Cơ quan háng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:
Vào tháng 8/2018 anh T có chuyển nh ợng cho ông Lê Văn Tr , sinh năm 1959 ngụ tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T một phần đất trồng cây lâu năm, diện tích 6.880 m2 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T. Ông Tr là sui gia với ông V và là cha chồng của chị L. Trên phần đất chuyển nh ợng này anh T có cất một căn ch i lá để ở canh tác đất, trong đó có để một số trang thiết bị dùng cho việc canh tác trồng hóm nh bình xịt, phân bón, thuốc trừ cỏ, xuồng…Khi anh T làm thủ tục chuyển nh ợng cho ông Tr xong anh T có nói với ông Tr là cho anh T một ít thời gian để anh T di dời ch i lá và đồ đạc nêu trên, ông Tr đồng . Vào lúc 17 giờ ngày 02/9/2018 ông V, bà P và chị L đến dọn dẹp phần đất của ông Tr, làm cỏ gần ch i lá của anh T và đốt rác làm cháy lan sang căn ch i lá của anh T, anh T hay tin chạy đến dập tắc lửa nh ng hông ịp.
Anh T bị thiệt hại một số tài sản là căn ch i và toàn bộ tài sản trong ch i. Vụ việc đ ợc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành điều tra, lập biên bản sự việc và phối hợp với Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định thiệt hại tài sản của anh T theo định giá là 8.212.500 đồng, anh T thống nhất theo số tiền này mà Hội đồng định giá đã định.
Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án c n lại 03 tài sản bị thiệt hại hông đ ợc công an huyện T và hội đồng định giá xác định là: 01 chiếc xuồng nhựa Composite tải trọng 450 g, cháy 35%, thiệt hại giá trị là 3.000.000 đồng 01 chiếc xuồng gỗ sao Việt Nam tải trọng 500 g, cháy 35%, thiệt hại giá trị là 2.000.000 đồng, 01 căn ch i lá xé, gỗ tạp, cháy 100%, thiệt hại giá trị là 3.000.000 đồng, tổng cộng là 8.000.000 đồng.
Nh vậy tổng thiệt hại của anh T là 16.212.500 đồng, nay anh T yêu cầu ông V, bà P và chị L phải liên đới bồi th ờng cho anh T số tiền là 16.212.500 đồng.
Tại đơn hông thống nhất bồi th ờng tài sản ngày 06/6/2019 bị đơn ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L trình bày: Vào lúc 17 giờ ngày 02/9/2018 các ông bà có đến dọn dẹp phần đất của ông Tr, làm cỏ gần ch i lá của anh T và có đốt rác. Nay anh T yêu cầu các ông bà phải liên đới bồi th ờng cho anh T số tiền là 16.212.500 đồng, các ông bà hông đồng với các l do sau: cái ch i này là do cha anh T cất tr ớc đây dùng để giữ hóm sau đó cha anh T chết, đất đã sang qua chủ hác từ lâu, anh T đã chuyển nh ợng đất và nhà, đã chuyển đồ đạc về M ở, lúc cháy ch i gia đình ông bà hông có mặt nơi xảy ra cháy, cũng hông biết vụ cháy này, đây là một cái ch i rách nát, mọi ng ời dân đều biết đây là ch i hoang.
Tại bản tự hai ngày 01/7/2019 ông Lê Văn Tr xác định: Ông là sui gia với ông V và là cha chồng của chị L. Vào tháng 8/2018 ông có nhận chuyển nh ợng của anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T một phần đất trồng cây lâu năm, diện tích 6.880 m2 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T. Hai bên đã làm thủ tục chuyển nh ợng xong và ông đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Trên phần đất chuyển nh ợng này anh T có cất một căn ch i lá để ở canh tác đất, căn ch i cất trên con m ơng giữa đất ông nhận chuyển nh ợng và đất ông D liền kề, trong đó có để một số trang thiết bị dùng cho việc canh tác trồng hóm nh bình xịt, phân bón, thuốc trừ cỏ xuồng…Khi ông làm thủ tục chuyển nh ợng xong ông có yêu cầu anh T tháo dỡ ch i và anh T nói là cho anh T một ít thời gian để di dời ch i lá và đồ đạc nêu trên, nh ng hông nói rõ thời gian bao lâu. Ngày 02/9/2018 thì xảy ra vụ cháy ch i nêu trên, ngày 03/9/2018 ông có đến thì thấy cái ch i cháy hoàn toàn và có cháy 02 chiếc xuồng, nay ông hông có iến gì trong vụ cháy này tùy hai bên tự giải quyết.
Tại biên bản ghi lời hai ngày 23/7/2019 anh T yêu cầu ông V, bà P và chị L phải liên đới bồi th ờng cho anh số tiền là 8.000.000 đồng.
Tại biên bản ghi lời hai ngày 23/7/2019 ông V, bà P đồng bồi th ờng cho anh T số tiền là 2.000.000 đồng.
Tại phiên t a nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T yêu cầu: Buộc ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L phải liên đới bồi th ờng thiệt hại cho anh số tiền là 8.000.000 đồng. Yêu cầu bồi th ờng một lần hi án có hiệu lực pháp luật.
*Bị đơn ông Lê Văn V và bà Võ Thị P chỉ đồng bồi th ờng thiệt hại cho anh T số tiền là 2.000.000 đồng.
* Bản án sơ thẩm số: 27/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của T a án nhân dân huyện T, tỉnh T căn cứ: Điều 584, 585, 586, 588, 589, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T.
- Buộc ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L phải liên đới bồi th ờng thiệt hại tài sản cho anh Nguyễn Thanh T số tiền là 8.000.000 đồng, trong đó ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L mỗi ng ời có nghĩa vụ bồi th ờng cho anh Nguyễn Thanh T số tiền là 2.666.666 đồng. Thực hiện nghĩa vụ bồi th ờng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến hi thi hành xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L chậm trả tiền bồi th ờng thì c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tại thời điểm thanh toán.
*Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 11/9/2019 ông Lê Văn V, bà Võ Thị P, bà Lê Thị L có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của t a án nhân dân huyện T yêu cầu:
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T, yêu cầu các ông bà phải có trách nhiệm liên đới bồi th ờng cho anh T số tiền là 8.000.000 đồng.
+ Xử bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T.
*Ngày 18/9/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyết định háng nghị số 06/QĐKNPT-VKS-DS háng nghị theo h ớng sửa bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu bồi th ờng thiệt hại tài sản của nguyên đơn.
Tại phiên t a phúc thẩm, các bị đơn vẫn tiếp tục yêu cầu háng cáo đồng thời chỉ chấp nhận bồi th ờng cho nguyên đơn 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), giá trị thiệt hại 01 chiếc xuồng bị cháy. Nguyên đơn hông đồng vẫn yêu cầu bị đơn bồi th ờng 8.000.000 triệu đồng (tám triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T xác định: Quá trình thụ l giải quyết theo trình tự phúc thẩm, tại phiên t a Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng. Về nội dung: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên háng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đề nghị Hội đồng xét xử sửa 01 phần án sơ thẩm về mức bồi th ờng thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phiện t a, có cơ sở nhận định:
Về tố tụng:
Sau khi tuyên án, hông đồng với kết quả xét xử sơ thẩm các bị đơn Lê Văn V, Võ Thị P và Lê Thị L háng cáo. Thủ tục háng cáo đúng theo trình tự do pháp luật về tố tụng quy định.
Về nội dung:
Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T yêu cầu các bị đơn bồi th ờng thiệt hại 8.000.000 đồng, nguyên nhân là do anh Lê Văn V, chị Võ Thị P, chị Lê Thị L đốt rẫy cháy lan sang ch i của anh T. Tài sản bị thiệt hại gồm ch i lá xuồng gỗ, xuồng nhựa, các tài sản trong ch i gồm bình xịt thuốc, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn háng cáo. Qua xem xét hồ sơ, lời trình bày của các đ ơng sự cho thấy giá trị yêu cầu bồi th ờng thiệt hại trong vụ án hông lớn nh ng quyết định của bản án sơ thẩm c n có những phần thiếu căn cứ. Cụ thể nh : “Tại biên bản sự việc ghi ngày 02/9/2018 thành phần tham dự có Nguyễn Văn Q - Tr ởng Công an xã, Hà Văn P, Nguyễn Hàn Phi H là Công an viên th ờng trực. Phía đ ơng sự có Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T. Cuối biên bản những ng ời tên lại là Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hàn Phi H. Tại biên bản hám nghiệm hiện tr ờng ngày 15/10/2018 chỉ ghi nhận căn ch i bị cháy, các trụ gổ c n lại cháy nham nhở cùng với các chiếc xuồng. Theo kết luận định giá tài sản số 82/KL- HĐ ngày 04/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản th ờng xuyên trong tố tụng hình sự tổng thiệt hại tài sản là 8.212.500 đồng. Tuy nhiên, trong đó chỉ có 01 xuồng gổ thiệt hại giá trị 2.000.000 đồng là phù hợp với các tài liệu thu thập đ ợc. Riêng một căn ch i gổ tạp do hết thời hạn sử dụng nên hông định giá đ ợc, hai xuồng c n lại bị cháy nám, nham nhở kết luận hông bị thiệt hại. Các tài sản c n lại chỉ định giá theo lời hai, mô tả của nguyên đơn, những tài sản này hông có tài liệu nào chứng minh hoặc ghi nhận tồn tại trong căn ch i và bị h hại do cháy.
Các bị đơn chỉ đồng bồi th ờng 2.000.000 đồng giá trị chiếc xuồng bị cháy.
Theo quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi th ờng thiệt hại thì ng ời gây thiệt hại phải có lỗi, có hành vi trái pháp luật… và xác định thiệt hại thực tế xảy ra.
Bản án sơ thẩm buộc bị đơn bồi th ờng toàn bộ theo yêu cầu của nguyên đơn là ch a hợp l . L do thiệt hại đ ợc chứng minh chỉ là một xuồng gổ trị giá 2.000.000 triệu đồng (hai triệu đồng) và bị đơn cũng chỉ chấp nhận bồi th ờng phần thiệt hại này.
Tuy nhiên mặc dù hông đ ợc định giá nh ết luận về các loại tài sản nh căn ch i, xuồng gỗ, xuồng nhựa đ ợc ghi nhận tại biên bản hiện tr ờng, thực tế thiệt hại là có xảy ra. Xác định đây là quan hệ tranh chấp hông lớn, với những thiếu sót nh trên thấy rằng hông cần thiết phải hủy án, để đảm bảo quyền lợi ích cho đôi bên đ ơng sự theo nguyên đơn yêu cầu bồi th ờng 8.000.000 triệu đồng (tám triệu đồng) nh ng hông hoàn toàn có cơ sở, bị đơn đồng bồi th ờng chiếc xuồng gỗ 2.000.000 triệu đồng (hai triệu đồng). Hội đồng xét xử thống nhất sửa án sơ thẩm chia đôi số tiền yêu cầu bồi th ờng, cụ thể chấp nhận háng nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của bị đơn, buộc bị đơn bồi th ờng cho nguyên đơn 4.000.000 triệu đồng (bốn triệu đồng). L do, theo bản ảnh có trong hồ sơ, hình ảnh do bị đơn cung cấp tại phiên t a chiếc xuồng nhựa bị cháy nham nhở, giá trị sử dụng có bị giảm đáng kể; đối với căn ch i hông định giá đ ợc nh ng thực tế c n sử dụng và đã bị cháy hoàn toàn nên cũng phải đ ợc tính để giảm thiểu thiệt hại cho nguyên đơn đảm bảo công bằng xã hội.
Ngoài ra tại phiên t a, bị đơn c n cho rằng việc xảy ra cháy hông có ai chứng kiến nên hông thể buộc họ phải bồi th ờng. Tuy nhiên nguyên nhân xảy ra cháy đã đ ợc cơ quan Công An xác định do bị đơn gây ra, tại cấp sơ thẩm bị đơn thừa nhận và chấp nhận bồi th ờng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Do đó lời khai nại nh trên của bị đơn là hông có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận háng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của các bị đơn, Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của T a án nhân dân huyện T, tỉnh T.
Căn cứ: Điều 584, 585, 586, 588, 589, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T.
Buộc ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L phải liên đới bồi th ờng thiệt hại tài sản cho anh Nguyễn Thanh T số tiền là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), trong đó ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L mỗi ng ời có nghĩa vụ bồi th ờng cho anh Nguyễn Thanh T số tiền là 1.333.333 đồng (một triệu, ba trăm ba m ơi ba ngàn, ba trăm ba m ơi ba đồng). Thực hiện nghĩa vụ bồi th ờng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến hi thi hành xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L chậm trả tiền bồi th ờng thì c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tại thời điểm thanh toán.
2. Về án phí:
Ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L liên đới chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Văn V, bà Võ Thị P và chị Lê Thị L đã tạm nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí theo biên lai thu số 20027 ngày 12/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh T đ ợc cấn trừ nên ông V, bà P và chị L xem nh đã nộp xong án phí.
Anh Lê Thanh T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, anh T đã nộp 405.000 đồng (bốn trăm lẻ năm ngàn đồng) theo biên lai thu số 19798 ngày 02/5/2019 đ ợc cấn trừ nên hoàn lại cho anh Lê Thanh T số tiền 105.000 đồng (một trăm lẻ năm ngàn đồng) tiền tạm nộp án phí theo biên lai thu số 19798 ngày 02/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh T.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau hi tuyên án.
Án tuyên vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 04 tháng 03 năm 2020.
*Nơi nhận:
| - TANDCC tại TP. H ; - VKSND tỉnh T ; - TAND huyện T ; - CC THADS huyện T ; - Các đ ơng sự; - Ph ng KTNV THA (TAT); - L u hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Trung Hiếu |