- Tranh chấp gì? án hình sự — "TMT bị truy tố về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo TMT, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2019/HSST Ngày 17/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Tâm
2. Ông Thông Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Thế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ông Lê Đức Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2019/HSST ngày 06/8/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: TMT, (tên gọi khác: Quậy); sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Thuận; HKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố 7, phường ĐT, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con của ông Trần Ngợi, sinh năm 1947 và bà Trương Thị Diền, sinh năm 1950 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị HV; con: 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 19/8/2015, TMT bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/3/2018.
Nhân thân: Ngày 29/3/2012, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục xã Phú Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 08/4/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/5/2019 đến ngày 06/6/2019, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam. Từ ngày 07/6/2019 đến nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Nguyễn TQ – 1979 (vắng mặt) Trú tại: thôn PS, xã HM, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyễn KT – 1996 (có mặt) Trú tại: thôn PH, xã HM, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị HV – 1990 (vắng mặt) Trú tại: khu phố 7, phường ĐT, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
- Phạm Thị T - 1982 (có mặt) Trú tại: thôn TH, xã TL, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
- Ngô QT – 1974 (vắng mặt) Trú tại: thôn DB, xã HK, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo TMT bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, nên TMT nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Thực hiện ý định này, Tiến rủ vợ mình là Nguyễn Thị HV – sinh năm 1990, trú khu phố 7, phường Đức Thắng, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận cùng tham gia. Trong hai ngày 28 và 29/5/2019, Tiến và Vân đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10h ngày 28/5/2019, TMT điều khiển xe mô tô BKS 49P4-1013 (Tiến mua không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, lắp BKS giả) chở Nguyễn Thị HV từ thành phố PT đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà của ông Nguyễn TQ – sinh năm 1979, ở thôn Phú Sơn, xã HM, huyện Hàm Thuận Nam thì Tiến phát hiện có 20 cái ky đựng thanh long màu đỏ, bằng nhựa để ở bên hông nhà, quan sát thấy cửa cổng mở, không có ai trông coi nên Tiến đi vào lấy 20 cái ky đem ra ngoài rồi cùng Vân đem ra sát đường Quốc lộ 1A giấu. Tiến và Vân để lại 10 cái ky và chở 10 cái ky mang đến vựa phế liệu của chị Phạm Thị T – sinh năm 1982, ở thôn Tiến Hưng, xã Tiến Lợi, thành phố PT bán được 300.000 đồng. Sau đó, cả hai quay lại lấy 10 cái ky còn lại bán cho vựa phế liệu của ông Ngô QT tại thôn Dân Bình, xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam được 400.000 đồng. (Bút lục 90-107, 110-122)
Vụ thứ hai: Khoảng 08h ngày 29/5/2019, Tiến điều khiển xe mô tô BKS 49P4-1013 chở Vân từ thành phố PT đi xã HM, huyện Hàm Thuận Nam. Khi đến nhà anh Nguyễn KT – sinh năm 1996, trú thôn Phú Hưng, xã HM thì Tiến vào nhà giả vờ hỏi “nhà chú Bảy đúc trụ thanh long ở đâu”, còn Vân đứng ngoài cùng với xe mô tô BKS 49P4-1013. Khi đi ra trước nhà Tiến phát hiện có 02 lồng chim (bên trong có 01 com chim chích chòe lửa và 01 con chim chích chòe than) nên đã lấy đưa ra ngoài rồi Vân điều khiển xe mô tô BKS 49P4-1013 chở Tiến cùng với 02 lồng chim ra hướng đường QL1A. Khi cả hai ra đến gần QL1A thì bị lực lượng Công an xã HM, huyện Hàm Thuận Nam phát hiện bắt giữ. (Bút lục 86-89, 110-122)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/2019-HĐĐG ngày 12/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Nam, kết luận: 02 lồng chim bằng tre trị giá 630.000 đồng, 01 con chim chích chòe lửa trị giá 700.000 đồng, 01 con chim chích chòe than trị giá 500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Tiến đã chiếm đoạt của anh Nguyễn KT là 1.830.000 đồng; 20 ky nhựa thanh long có trị giá 1.866.720 đồng. (Bút lục 32, 33).
Tang vật tạm giữ gồm: (Bút lục 53-56)
- 01 xe mô tô BKS 49P4-1013;
- 02 lồng chim (bên trong có 01 con chim chích chòe lửa và 01 con chim chích chòe than);
- 10 ky đựng thanh long màu đỏ, bằng nhựa (thu giữ tại vựa phế liệu của ông Ngô QT).
Vật chứng của vụ án:
Ngày 19/6/2019, CQĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam đã trả lại tài sản là 02 lồng chim bằng tre, 01 con chim chích chòe lửa và 01 con chim chích chòe than cho chủ sở hữu là anh Nguyễn KT. Ngày 20/6/2019, trả lại 10 ky đựng thanh long màu đỏ, bằng nhựa cho chủ sở hữu là ông Nguyễn TQ. (Bút lục 63, 64)
Đối với xe mô tô BKS 49P4-1013 Tiến mua để sử dụng, nhưng không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, đã tra cứu nhưng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp (biển kiểm soát và số máy không tìm thấy dữ liệu tra cứu trên toàn quốc) và Tiến đã sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần phải tịch thu xung quỹ Nhà nước. Tang vật này hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam.
Về dân sự: Ngày 06/7/2019, TMT đã bồi thường 650.000 đồng cho ông Nguyễn TQ. Đây là tiền 10 cái ky mà Tiến đã trộm cắp của ông Quyền và bán cho vựa phế liệu của chị Phạm Thị T mà không thu hồi được. Trả lại 400.000 đồng cho ông Ngô QT do ông Thắng đã mua 10 cái ky của Tiến với giá 400.000 đồng, sau đó CQĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Quyền.
Hiện anh Nguyễn KT và ông Nguyễn TQ đã nhận lại được tài sản và tiền bồi thường nên không có yêu cầu gì.
Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 05/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố TMT về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo và khẳng định việc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo TMT phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt TMT từ 12 (mười hai) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với xe mô tô hiệu Sanda màu xanh bạc, BKS 49P4-1013 , số máy LCT 525MH *01870303*, số khung không xác định, không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo TMT khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, do đó đã đủ cơ sở xác định:
Muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, nên vào sáng ngày 28/5/2019, TMT và Nguyễn Thị HV đã lén lút chiếm đoạt 20 ky đựng thanh long của ông Nguyễn TQ có trị giá 1.866.720 đồng, tại thôn Phú Sơn, xã HM. Sáng ngày 29/5/2019, TMT và Nguyễn Thị HV tiếp tục lén lút chiếm đoạt 02 lồng chim (bên trong có 01 con chim chích chòe lửa và 01 con chim chích chòe than) của anh Nguyễn KT có trị giá 1.830.000 đồng tại thôn Phú Hưng, xã HM.
Mặc dù các tài sản nêu trên mà Tiến hai lần trộm cắp đều có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng Tiến có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”, đây là yếu tố định tội về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.
Đối với Nguyễn Thị HV, là người đã cùng với TMT hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Tuy nhiên, cả hai lần trị giá tài sản đều dưới 2.000.000 đồng, Vân chưa bị xử phạt hành chính và kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, nên hành vi của Vân không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, ngày 15/7/2019, Công an huyện Hàm Thuận Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị HV là đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo TMT là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần vào ngày 28/5/2019 và ngày 29/5/2019. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về mức hình phạt:
Xét nhân thân của bị cáo: Ngày 29/3/2012, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục xã Phú Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 08/4/2014. Đến ngày 19/8/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố PT, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/3/2018. Nhưng khi về địa phương, bị cáo lại không chịu lao động, rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện ý thức lười lao động, coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, TMT đã bồi thường 650.000 đồng cho ông Nguyễn TQ. Đây là tiền 10 cái ky mà Tiến đã trộm cắp của ông Quyền và bán cho vựa phế liệu của chị Phạm Thị T mà không thu hồi được. Trả lại 400.000 đồng cho ông Ngô QT do ông Thắng đã mua 10 cái ky của Tiến với giá 400.000 đồng, sau đó CQĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Quyền.
Hiện anh Nguyễn KT và ông Nguyễn TQ đã nhận lại được tài sản và tiền bồi thường nên không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Ngày 19/6/2019, CQĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam đã trả lại tài sản là 02 lồng chim bằng tre, 01 con chim chích chòe lửa và 01 con chim chích chòe than cho chủ sở hữu là anh Nguyễn KT. Ngày 20/6/2019, trả lại 10 ky đựng thanh long màu đỏ, bằng nhựa cho chủ sở hữu là ông Nguyễn TQ. (Bút lục 63, 64). Việc giao trả vật chứng được thực hiện xong nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với xe mô tô hiệu Sanda màu xanh bạc, BKS 49P4-1013 , số máy LCI525MH *01870303* , số khung không xác định, không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam, đây là phương tiện mà Tiến đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo TMT, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt TMT: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/5/2019 đến ngày 06/6/2019.
[2] căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với xe mô tô hiệu Sanda màu xanh bạc, BKS 49P4-1013 , số máy LCI 525MH *01870303*, số khung không xác định, không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo TMT phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo;bị hại nguyễn KT, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị T, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Nguyễn TQ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị HV, Ngô QT vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND Hàm Thuận Nam; - CCTHADS Hàm Thuận Nam; - Công an Hàm Thuận Nam; - Người TGTT; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Vũ |