vanban.org

Bản án 46/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 23/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Trịnh Thị M 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án 46 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HS-ST
Ngày: 25/03/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo

Bà Vũ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền- Thư ký Tòa án,Tòa án

nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo:

1.Trịnh Thị M, giới tính: Nữ,sinh năm: 199x, tại: Thanh Hóa; Nơi đăng ký

hộ khẩu thường trú: Thôn T Đ, xã H Kh, huyện HH, tỉnh ThH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông:Trịnh Văn Lương; Con bà: Trương Thị Gấm; Chồng: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 04/02/2013, Tóa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 956.000đ); Ngày 30/10/2013, Tóa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 920.000đ); Ngày 08/07/2014, Tóa án nhân dân huyện Hoài Đức, Hà Nội xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 3.504.000đ); Ngày 19/09/2016, Tóa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 1.300.000đ); Ngày 24/11/2017, Tóa án nhân dân huyện Bảo Yên, Lào Cai xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 1.886.000đ); Ngày 19/7/2018, Tóa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 257.626đ) Ra trại ngày 19/10/2018; Danh bản, chỉ bản số: 083, lập ngày 25/01/2019 tại Công an quận Đống Đa, Hà Nội; quyết định tạm giữ số 60 ngày 24/12/2018.

Nhân thân: Ngày 09/4/2011 Công an phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà

Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Người bị hại:

Chị Cao Thị Thanh V, sinh năm: 196x.

Nơi cư trú: Số 12 TDP Trung Bình, phường Dương Nội, HĐ, HN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h ngày 16/12/2018, Trịnh Thị M đi bộ vào bên trong Văn Miếu

Quốc Tử Giám, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi M đi vào khu vực nhà Tiền Đường thì quan sát thấy ở khu vực ghế ngồi có để 01 chiếc túi xách màu da bò là tài sản của chị Cao Thị Thanh V (Sinh năm: 196x, trú tại: Số 12 TDP Trung Bình, phường Dương Nội, HĐ, HN) không có người trông giữa, lúc này chị V đang đứng chụp ảnh cách vị trí chiếc túi khoảng 02 mét. Thấy chị V và mọi người không ai để ý đến chiếc túi, M tiến lại gần cho tay vào trong chiếc túi xách lấy 02 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng – hồng cùng 01 chiếc ví da gấp màu đỏ đen bên trong có 700.000đ đều là tài sản của chị Cao Thị Thanh V, sau đó M đi ra ngoài lấy toàn bộ tiền trong ví cất vào trong người, tắt nguồn 02 điện thoại, cất giấu một chiếc tại bụi cỏ gần đó, một chiếc M tháo sim ra và vứt sim vào sọt rác cùng chiếc ví da đỏ đen rồi rời khỏi Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Sau khi phát hiện mất chiếc ví cùng 02 điện thoại di động, chị V đã yêu cầu

anh Nguyễn Huy Hoàng (Sinh năm: 1980, trú tại: Số 4 ngõ 129 Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội) là nhân viên bảo vệ cho xem lại camera tại khu vực nhà Tiền Đường nên anh Hoàng và chị V quan sát được đặc điểm của đối tượng đã trộm cắp tài sản. Sau đó, chị V đã đến Công an phường Quốc Tử Giám trình báo sự việc.

Ngày 23/12/2018, M đi vào Văn Miếu Quốc Tử Giám thì bị anh Nguyễn Huy

Hoàng phát hiện giống với người nữ giới đã trộm cắp tài sản của chị V nên đã giữ lại và thông báo cho Công an phường Quốc Tử Giám đến đưa M về trụ sở.

Tại cơ quan công an, Trịnh Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

bản thân như đã nêu ở trên, mục đích M trộm cáp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. M cho biết sau khi chiếm đoạt được tài sản, M đã cho chị Trịnh Thị Toán (Sinh năm: 1958, trú tại: Số 31 ngõ 129 Trương Định, phường Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội) 01 chiếc điện thoại OPPO, còn 01 chiếc điện thoại OPPO M cất giấu tại khu vực bụi cỏ đã bị mất, đối với số tiền 700.000đ M đã tiêu xài vào mục đích cá nhân và chỉ còn lại 260.000đ. M đã giao nộp lại toàn bộ số tiền trên.

Kết luận định giá tài sản số 06/ĐGTS ngày 02/01/2019 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đống Đa kết luận:

“Trị giá của 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO A37,

Imei:353328071916587 là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) và trị giá 01 (một) điện thoại di động OPPO A37 (chưa thu hồi được) là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng)”.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Thị Toán khai: Trịnh Thị M có đến quán bia số 2

phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội nơi chị Toán làm việc để xin làm việc, sau đó M có gửi chị Toán 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng – hồng, chị Toán không hề biết chiếc điện thoại này là tài sản do M phạm tội mà có và xin tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại trên.

Ngày 15/02/2049, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đống Đa đã ra

quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc điện thoại di động OPPO A37 và 260.000 đồng cho chị Cao Thị Thanh V. Chị V đã nhận lại số tài sản trên và không có yêu cầu bồi thường dân sự gì khác.

Cáo trạng số 56/CT-VKSĐĐ ngày 11/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân

quận Đống Đa đã truy tố Trịnh Thị M tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:

- Trịnh Thị M từ 14 tháng tù đến 18 tháng tù.

- Bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi

thường gì nên không xét.

Buộc bị cáo phải truy nộp 440.000 đồng hưởng lợi bất chính để nộp ngân

sách nhà nước.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội với thái độ ăn năm hối cải và

có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống

Đa, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận đống Đa, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trịnh Thị M đã thành khẩn khai nhận hành

vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được trong vụ án và Kết quả định giá tài sản. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13h ngày 16/12/2018, tại khu vực nhà tiền đường trong Văn Miếu,

Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội, Trịnh Thị M đã có hành vi trộm cắp tài sản của chị Cao Thị Thanh V gồm 02 điện thoại di động OPPO A37 cùng 01 chiếc ví da gấp màu đỏ đen bên trong có 700.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo M trộm cắp là 2.500.000 đồng.

.Hành vi của bị cáo Trịnh Thị M đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo Khoản

1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

.Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu

tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội giữa nơi đông người, lợi dụng chủ tài sản sơ ý bị cáo đã lấy trộm tài sản, hành vi của bị cáo là cố ý với mục đích vụ lợi cá nhân thể hiện ý thức của bị cáo là xem nhẹ pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Xét nhân thân cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2011 đã hết thời hiệu và 07 tiền án cũng cùng loại tội trộm cắp tài sản, các tiền án trên của bị cáo giá trị tài sản các lần bị cáo trộm cắp có nhiều lần dưới 2.000.000 đồng, nên tiến án trước là tình tiết định tội của tiền án sau. Lần phạm tội này của bị cáo giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng mà tiền án năm 2018 của bị cáo chưa được xóa nên lần phạm tội này bị áo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy có thể thấy bị cáo là người đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không chịu tu chí làm ăn mà lại đi vào con đường phạm tội, do vậy thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo đã thành khẩn

khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú khai rõ hành vi phạm tội của mình, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; Với các tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần thiết cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng

tiền theo Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm. Song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, vì vậy, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản là 01 điện thoại

OPPO và 260.000 còn các tài sản khác không thu hồi được người bị hại tự nguyện không yêu cầu bồi thường nên ghi nhận và không xem xét.

Đối với số tiền 440.000 đồng bị cáo đã ăn tiêu hết, người bị hại không yêu

cầu bồi thường số tiền này nên cần buộc bị cáo phải truy nộp số 440.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Đối với chị Trịnh Thị Toán là người nhận 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu

OPPO màu trắng – hồng do M gửi, chị Toán không hề biết chiếc điện thoại này là tài sản do M phạm tội mà có và xin tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại trên nên không xem xét.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trịnh Thị M 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

24/12/2018.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Căn cứ: - Điều 136,331,333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định

về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 440.000 đồng để nộp ngân sách

nhà nước.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt

bản án hợp lệ.

Cỡ chữ