vanban.org

Bản án 46/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy một phần bản án hình S sơ thẩm số: 32/2018/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N H đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C.

Giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện N H để điều tra lại đối với bị cáo Lê Văn C theo thủ tục chung. Về án phí: Bị cáo Lê Văn C không phải chịu án phí sơ thẩm và Phc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Hủy một phần bản án hình S sơ thẩm số: 32/2018/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N H đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật tố tụng hình S; Điều 358 Bộ luật tố tụng hình S
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HS-PT
Ngày 11 - 4 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử Phc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Nhân

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Kông - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử Phc thẩm công khai vụ án hình S Phc thẩm thụ lý số: 09/2019/TLPT-HS ngày 05 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo Võ Văn Kh, Võ Văn K, Lê Văn C do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn C đối với Bản án hình S sơ thẩm số: 32/2018/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện N H.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn C, sinh năm 1990 (tên gọi khác: Bự); tại ấp M, xã Đ M, huyện N H, tỉnh C M; Nơi cư trú: ấp M, xã Đ M, huyện N H, tỉnh C M, nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Út (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tạo (đã chết); có vợ là: Nguyễn Ngọc Quyền và 02 người con lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án; tiền S: Không; bị tạm giam ngày 28/8/2018 cho đến nay (bị cáo bị tạm giam có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn C: Luật sư Trần Văn Độ - Văn Phòng

luật sư Trần Độ Thuộc đoàn luật sư Hậu Giang (có mặt).

Địa chỉ: Số 79 Hùng Vương, KV4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngoài ra C có 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Võ Văn Kh, Võ Văn K.

- Bị hại: Ngô Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Nơi cư trú: khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện N H, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lưu Quốc C, sinh năm 1982(vắng mặt).

Nơi cư trú: khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện N H, tỉnh Cà Mau.

Nguyễn Quốc N, sinh năm 1988(vắng mặt).

Tạ Khải E, sinh năm 1976(vắng mặt).

Bùi Quang S, sinh năm 1997(vắng mặt).

Võ Văn P, sinh năm 1994(vắng mặt).

Võ Văn Ph, sinh năm 1982(vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp M, xã Đ M, huyện N H, tỉnh C M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 5 giờ ngày 26/5/2018, Võ Văn Kh cùng Võ Văn K đi đặt lú bát quái tại khu vực biển cách Mũi Cà Mau khoảng 10 km và sau đó về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì K hay tin có nhiều ghe cào đang cào trong khu vực đặt lú, K kêu Kh cùng Nguyễn Quốc N, Võ Văn P, Tạ Khải E, lấy võ composite và máy hiệu RaTo của Khải E, do Khải E điều khiển chạy ra khu vực đặt lú, đến nơi phát hiện thấy có 6 đến 7 ghe cào đang cào nên cặp lại một chiếc để nói chuyện, mục đích là đuổi ghe cào ra khỏi khu vực đặt lú thì giữa nhóm của Kh và ghe cào xảy ra cự cải, các ghe cào khác nghe thấy vậy nên chạy đến rượt đuổi nhóm của Kh bỏ chạy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, K gọi điện cho anh ruột là Võ Văn Ph ở nhà ra tiếp đuổi rượt các ghe cào, khoảng 20 Pht sau Ph cùng Bùi Quang S, Lê Văn C và Nguyễn Văn Lil chạy võ máy xe ra, do C điều khiển phương tiện. Khi hai phương tiện gặp nhau, Kh, K và N qua đi cùng võ với Ph, hai phương tiện tiếp tục chạy ra biển để tìm các ghe cào rượt đuổi. Sau khi nhóm của Kh phát hiện ghe cào biển số BL 91709 TS của anh Lưu Quốc C do anh Ngô Văn T điều khiển cùng đi với anh Lưu Quốc Vinh và Dương Tấn Đạt. Nhóm của Kh rượt theo dùng cây chọi vào ghe cào của anh T và tiếp đó hai phương tiện cặp vào mạn ghe để cho Kh, K, Ph và N lên ghe cào. Lúc rượt đuổi trên phương tiện của C có người kêu lấy miệng cào đE về để thỏa thuận bồi thường. Khi lên ghe cào nhóm của Kh dùng lời chửi bới anh T cùng những người đi trên ghe, riêng đối với Kh cầm theo cây búa dọa đòi cắt cổ anh T, anh T không dám nói gì, C lại Vinh và Đạt chạy vào trong và sau ghe trốn. K kêu lấy miệng cào để may vào thỏa thuận thì C đứng dưới võ nghe và kéo miệng cào xuống võ máy xe, K đứng trên ghe cào kéo tiếp C, Kh thấy vậy dùng búa chặt đức dây miệng cào để cho K và C lấy, sau đó Kh, K, C dùng búa đập làm bể 05 ô kính chắn gió trên ghe. Khi lấy được miệng cào thì cả nhóm của Kh xuống võ chạy về nhà và để miệng cào tại nhà K.

Đối với anh T sau khi nhóm của Kh dùng vũ lực tấn công lấy được miệng cào thì anh T điện về báo cho anh Lưu Quốc C là chủ ghe biết S việc, đồng thời kiểm tra trên tàu thì phát hiện mất thêm 150 mét dây bô loại đậu 16 mm, 40 mét loại đậu 12 mm và mất 01 đèn pin đội đầu. S việc được trình báo Công an huyện N H.

Tại kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐ ngày 25/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện N H kết luận: 01 miệng cào dài 18 mét có đường tròn 23 mét C 70% giá trị sử dụng, trị giá 6.372.800 đồng; 05 miếng kính loại 02 mm giá 47.000 đồng; 150 mét dây bô loại 16 mm giá 1.724.300 đồng, 40 mét dây bô loại 12 mm giá 418.000 đồng; 01 đèn pin đội đầu giá 77.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là: 8.640.000 đồng.

Tại Bản án hình S sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện N H quyết định:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình S; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình S; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Các bị cáo Võ Văn Kh, Võ Văn K, Lê Văn C phạm tội: “Cướp tài sản”. Xử phạt bị cáo Võ Văn Kh 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, Võ Văn K 03 (ba) năm tù, Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù của các bị cáo được tính từ ngày 28/8/2018.

Ngày 06 tháng 12 năm 2018, bị cáo Lê Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa Phc thẩm bị cáo C thay đổi yêu cầu kháng cáo cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi như án sơ thẩm đã tuyên xử nên có kháng cáo kêu oan.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử Phc thẩm áp dụng Điều 358 Bộ luật tố tụng hình S tuyên hủy bản án hình S sơ thẩm số 32/2018/HSST ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện N H đối với Lê Văn C để điều tra lại theo thủ tục chung do cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hồ sơ thể hiện các bị cáo Võ Văn K, Lê Văn C đều không biết chữ nhưng quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng giai đoạn điều tra truy tố cũng như lấy lời khai, hỏi cung các bị cáo không có S tham dự của người chứng kiến. Tại các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung không có chữ ký của người chứng kiến. Như vậy trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng đối với các bị cáo C, K là những người không biết chữ theo qui định tại đoạn 3 khoản 2 Điều 133, Điều 176, Điều 178, 184 phải có S tham dự của người chứng kiến đồng thời khi lập biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đều phải có chữ ký của người chứng kiến nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã không thực hiện đúng theo qui định này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tuy nhiên đối với bị cáo Võ Văn K quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với lời trình bày của bị hại, trình bày của người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được. Hơn nữa đối với bị cáo K không có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên bản án sơ thẩm đã phát sinh hiệu lực đối với bị cáo K nên cấp Phc thẩm không đặt ra xE xét.

Đối với bị cáo C tại phiên tòa Phc thẩm hôm nay bị cáo C thay đổi nội dung và có yêu cầu kháng cáo kêu oan. Bị cáo cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi dùng tay kéo miệng cào xuống võ cùng với bị cáo K như án sơ thẩm đã quy kết lý do là tại thời điểm xảy ra S việc bị cáo C là người điều khiển phương tiện võ máy và phương tiện võ máy vẫn đang hoạt động. Lời trình bày của N ( BL123 ) và của Ph đều xác định không thấy bị cáo C kéo miệng cào xuống võ nhưng các lời khai của các bị cáo K, bị cáo Kh xác định bị cáo C đã cùng với K kéo miệng cào qua võ.

Như vậy lời khai của bị cáo C và lời khai của các nhân chứng tại hiện trường C nhiều mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo K, Kh nhưng quá trình điều tra cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất để làm rõ.

Mặc khác theo lời khai bị cáo C tại thời điểm này những người đi cùng trên võ của bị cáo C gồm Ph, K, Thắng, N, Lil, S và bị cáo C thì có ba người cùng lên ghe cào của bị hại cùng với bị cáo K và bị cáo Kh là Ph, Thắng, N C lại hai người vẫn ở lại trên võ cùng bị cáo C là Lil và S. Như vậy thời điểm này Lil và S ở lại trên võ bị cáo C đang ở vị trí nào trên võ, họ làm gì trong khi các bị cáo đang kéo miệng cào; đối với Ph, Thắng, N nếu đi cùng với K, Kh lên ghe cào bị hại thì họ làm gì ở vị trí nào trên ghe cào. cấp sơ thẩm chưa làm rõ nhằm xác định cụ thể vai trò của bị cáo C và tất cả những người đi cùng có tham gia giúp sức cùng với các bị cáo K, Kh thực hiện hành vi phạm tội hay không?

Tại tòa bị cáo C và luật sư bào chữa cho bị cáo C thống nhất với ý kiến đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau cho rằng án sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nên có ý kiến tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử Phc thẩm hủy bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C để điều tra truy tố xét xử lại theo thủ tục chung.

Thấy rằng quá trình điều tra truy tố đối với bị cáo Lê Văn C cấp sơ thẩm đã có thiếu sót, vi phạm thủ tục tố tụng mà cấp Phc thẩm không thể bổ sung khắc phục được. Do vậy cần thiết hủy một phần bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C để giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra giải quyết lại theo thủ tục chung như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau là phù hợp.

Do hủy một phần Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C nên không xE xét kháng cáo của bị cáo C. Án phí hình S Phc thẩm bị cáo Lê Văn C không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án hình S sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực thi hành không đặt ra xE xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình S,

Hủy một phần bản án hình S sơ thẩm số: 32/2018/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N H đã xét xử đối với bị cáo Lê Văn C.

Giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện N H để điều tra lại đối với bị cáo Lê Văn C theo thủ tục chung.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn C không phải chịu án phí sơ thẩm và Phc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình S sơ thẩm số: 32/2018/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N H xét xử đối với các bị cáo Võ Văn Kh, bị cáo Võ Văn K không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực thi hành.

Bản án Phc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ