vanban.org

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trang Hồng L với ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ.

Về con chung: Bà Trang Hồng L và ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trang Hồng L tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 46 ngày 13 tháng 11 năm 2019 Nguyên đơn Trang Hồng L và bị đơn Nguyễn Huỳnh Phúc Đ.pdf"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trang Hồng L với ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH NH PH S C TR NG
TỈNH S C TR NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13-11-2019.
V/v : Tranh chấp hôn nhân và gia
đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH S C TR NG, TỈNH S C TR NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thanh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Phơ.

2. Ông Đào Khel.

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2019/TLST-HNGĐ ngày 14/6/2019 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trang Hồng L, sinh năm 19xx (có mặt).

Địa chỉ: Số A1, đường PĐP, khóm P, phường P, thành phố P, tỉnh P.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ, sinh năm 19xx (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A2, đường BĐ, khóm P1, phường P1, thành phố P1, tỉnh P1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2019, trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trang Hồng L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trang Hồng L và ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh P và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/9/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do trong quá trình chung sống ông, bà không hợp nhau về tính tình, ông Đ sống không có trách nhiệm với gia đình và có quan hệ khác ngoài hôn nhân, khi bà L phát hiện ông Đ cũng thừa nhận và có xin bà L tha thứ, tuy nhiên thời gian gần đây ông Đ lại tiếp tục có mối quan hệ với người phụ nữ khác bà L phát hiện đòi về nhà cha mẹ ruột bà L sinh sống thì ông Đ hâm dọa sẽ giết bà L, bà L nhiều lần yêu cầu ông Đ hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Đ không đồng ý, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Bà L và ông Đ đã sống ly thân từ tháng 02/2019 cho đến nay vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Trang Hồng L và ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông Đ biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ông Đ đã nhận trực tiếp nhưng ông Đ không tham gia theo giấy triệu tập của Tòa án. Đồng thời bị đơn ông Đăng cũng không cung cấp chứng cứ và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa theo Giấy triệu tập của Tòa án.

Ý kiến của kiểm sát viên: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn là ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trang Hồng L và ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống do ông, bà không hợp nhau về tính tình, do ông Đ sống không có trách nhiệm với gia đình và có quan hệ khác ngoài hôn nhân, khi bà L phát hiện ông Đ cũng thừa nhận và có xin bà L tha thứ, tuy nhiên thời gian gần đây ông Đ lại tiếp tục có mối quan hệ với người phụ nữ khác bà L phát hiện đòi về nhà cha mẹ ruột bà L sinh sống thì ông Đ hâm dọa sẽ giết bà L, bà L nhiều lần yêu cầu ông Đ hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Đ không đồng ý, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Bà L và ông Đ đã sống ly thân từ tháng 02/2019 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ đã trực tiếp nhận Thông báo thụ lý và tất cả các văn bản của Tòa án, tuy nhiên ông Đ không có bất cứ ý kiến gì. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông, bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L cho bà L được ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: Bà Trang Hồng L tự khai không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trang Hồng L tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Trang Hồng L phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000 đồng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những phân tích, nhận định trên nên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trang Hồng L với ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ.

2. Về con chung: Bà Trang Hồng L và ông Nguyễn Huỳnh Phúc Đ không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trang Hồng L tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trang Hồng L phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007521 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà L đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ