vanban.org

Bản án 46/2019/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Long An Tuyên án 19/11/2019 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn H.

Hủy một phần Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của Ủy ban nhân dân thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho Ủy ban nhân dân xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, đất tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thị xã KT về việc k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trương Văn H "KK QĐHC" UBND thị xã KT, tỉnh Long An"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Đất đai; Điều 164 Luật Đất đai; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HC-ST
Ngày: 19/11/2019
V/v khiếu kiện quyết định
hành chính, hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nhường

2/ Bà Lê Phan Ngọc Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Lê Thị Hồng Hạnh

- Kiểm sát viên.

Ngày 10/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 71/2019/TLST-HC ngày 21/6/2019 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST-HC ngày 22/10/2019, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trương Văn H, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Ấp CĐ2, xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Ấp 5, xã TL, huyện MH, tỉnh Long An.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã KT, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông La Văn D; Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã KT;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Dương Tuấn A; Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã KT;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An;

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Hoàng K; Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã BT, thị xã KT.

(Ông T, ông Tuấn A, ông K có mặt; ông D xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện của người khởi kiện và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền tại phiên tòa như sau:

Ông Trương Văn H yêu cầu Tòa án hủy một phần quyết định hành chính số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, tờ bản đồ (TBĐ) số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An; yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho ông H đối với thửa 474, TBĐ số 04 của UBND xã BT và UBND thị xã KT là trái pháp luật; buộc UBND thị xã KT cấp GCNQSDĐ cho ông đối với thửa 474, TBĐ số 04, đất tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An.

Lý do khởi kiện: Nguồn gốc thửa đất số 474, diện tích khoảng 2.100m2 có nguồn gốc do gia đình ông khai hoang vào năm 1986, gia đình ông đã sử dụng liên tục từ năm 1986 cho đến nay, không ai tranh chấp. Ngày 24/6/2016 ông H có làm đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp đến UBND xã BT. Tại công văn số 22/CV-UBND ngày 28/10/2016 UBND xã BT trả lời không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông vì thửa đất này thuộc quỹ đất công ích do địa phương quản lý. Ngày 30/10/2018, ông H nộp đơn xin cấp GCNQSDĐ đến UBND thị xã KT và UBND thị xã KT đã trả lời đơn của ông H tại văn bản số 1308/UBND-TNMT ngày 30/11/2018 với nội dung ông H không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với UBND xã BT, thị xã KT.

Người bị kiện UBND thị xã KT trình bày tại văn bản số 1001/UBND-TNMT ngày 25/10/2019 và lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện tại phiên tòa:

Phần đất ông Trương Văn H yêu cầu cấp GCNQSDĐ có diện tích khoảng 2.400m2, thuộc thửa đất số 474, TBĐ số 04 có nguồn gốc của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) Bình Minh trước đây được UBND tỉnh Long An thành lập theo Quyết định số 1793/UB.QĐ.84 ngày 27/12/1984. Khoảng năm 1988, HTX Bình Minh giải thể, đất đai mà các xã viên đã được khoáng trước đó vẫn tiếp tục canh tác trong đó có hộ ông Trương Văn H. Sau khi chia đất theo bình quân nhân khẩu trên địa bàn xã vào năm 1989 - 1990, phần diện tích đất khó sản xuất dư ra được UBND xã cho các hộ dân mượn để sản xuất, đến năm 1998 UBND xã mới bắt đầu thu tiền cho thuê đất đối với các hộ dân. Năm 2012 ông H ký hợp đồng thuê đất và đóng tiền thuê đất vào các năm 1999, 2005 và 2012. Hiện tại, thửa đất này thuộc quỹ đất công ích của xã BT quản lý theo Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 và trên Sổ mục kê do UBND xã BT quản lý. Vì vậy, yêu cầu của ông H không có cơ sở để được xem xét giải quyết, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định, trong xét xử đảm bảo cho các bên thực hiện đầy đủ quyền tranh tụng.

Về nội dung: Nguồn gốc phần đất ông Trương Văn H yêu cầu cấp GCNQSDĐ là của HTX Bình Minh, năm 1988 hợp tác xã giải thể thì các hộ dân trong đó có hộ ông H vẫn trực tiếp sử dụng đến nay. Người bị kiện cho rằng đây là đất công nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh lại ban hành Quyết định tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý là trái quy định pháp luật. Ông H đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo Điều 99, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, nhưng UBND thị xã KT không cấp GCNQSDĐ cho ông H đối với thửa 474, TBĐ 04 là trái quy định pháp luật. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c Khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng Hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H; hủy một phần quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An; buộc UBND thị xã KT thực hiện nhiệm vụ công vụ tiến hành thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông Trương Văn H đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An theo quy định pháp luật.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Nguồn gốc thửa đất 474, TBĐ số 04 do ông H trực tiếp sử dụng từ năm 1988 đến nay. Ngày 15/9/2014, UBND thị xã KT ban hành Quyết định số 2328/QĐ-UBND về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý trong đó có thửa đất số 474, TBĐ số 04 hiện do ông H đang trực tiếp canh tác trồng lúa. Ngày 30/10/2018 ông H nộp đơn xin cấp GCNQSDĐ đến UBND thị xã KT, tại văn bản số 1308/UBND-TNMT ngày 30/11/2018 UBND thị xã KT trả lời đơn của ông H với nội dung ông H không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Ông Trương Văn H cho rằng một phần thửa đất 474, TBĐ số 04 có nguồn gốc do gia đình ông khai hoang và canh tác ổn định liên tục từ năm 1986 đến nay, không ai tranh chấp, đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai. Người bị kiện cho rằng thửa đất 474, TBĐ số 04 thuộc quỹ đất công ích của Nhà nước do UBND xã BT quản lý nên ông H không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Thủ tục tố tụng:

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trương Văn H yêu cầu Tòa án hủy một phần quyết hành chính số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04; yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính không cấp GCNQSDĐ cho ông H đối với thửa 474, TBĐ số 04 của UBND thị xã KT là trái pháp luật; buộc UBND thị xã KT cấp GCNQSDĐ cho ông đối với thửa đất 474, TBĐ số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An. Đây khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 và Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: UBND thị xã KT ban hành Quyết định số 2328/QĐ-UBND về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý trong đó có thửa đất số 474, TBĐ số 04 do ông Trương Văn H đang trực tiếp canh tác. Ngày 30/10/2018 ông H tiếp tục nộp đơn xin cấp GCNQSDĐ đến UBND thị xã KT và được trả lời bằng văn bản số 1308/UBND-TNMT ngày 30/11/2018 có nội dung ông H không đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ. Đến ngày 23/4/2019, ông H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An yêu cầu hủy quyết định hành chính và tuyên bố hành vi hành chính của UBND thị xã KT là trái pháp luật là còn trong thời hiệu theo quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện. Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với UBND xã BT, thị xã KT nên Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của UBND xã BT tại phiên tòa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Xét tính hợp pháp của Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý:

UBND thị xã KT cho rằng thửa đất 474, TBĐ số 04 là của HTX Bình Minh, năm 1988 HTX Bình Minh giải thể, các hộ dân được HTX giao khoáng đất canh tác vẫn tiếp tục canh tác cho đến nay trong đó có hộ ông Trương Văn H, nhưng UBND thị xã KT không cung cấp chứng cứ chứng minh thửa 474 là đất công lại ban hành Quyết định tạm giao quỹ đất công cho UBND xã quản lý là trái quy định tại khoản 1 Điều 164 Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy hủy một phần Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho UBND xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An.

Xét tính hợp pháp của hành vi hành chính của UBND thị xã KT:

Theo văn bản số 22/CV-UBND ngày 28/10/2016 của UBND xã BT và văn bản số 1308/UBND-TNMT ngày 30/11/2018 của UBND thị xã KT cho rằng lý do không cấp GCNQSDĐ cho ông H vì thửa đất 474 thuộc quỹ đất công ích do UBND xã quản lý theo Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND thị xã KT. Tuy nhiên, không có căn cứ xác định thửa đất 474 là đất công của Nhà nước. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/9/2019 thì thửa đất 474 hiện do ông H đang trực tiếp sử dụng ổn định trồng lúa. Từ năm 1989 đến nay ông H sử dụng đất không có tranh chấp, không bị thu hồi hoặc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, vì vậy ông H đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 99, 101 Luật Đất đai năm 2013. Như vậy, hành vi hành chính của UBND thị xã KT không cấp GCNQSDĐ cho ông H là trái với quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 và điểm a Khoản 5 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì vậy cần buộc UBND thị xã KT thực hiện nhiệm vụ công vụ tiến hành thủ tục cấp giấy CNQSDĐ cho ông H đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An.

Về chi phí tố tụng và án phí:

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, ông Trương Văn H đã nộp tạm ứng và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận.

Về án phí: Ông Trương Văn H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. UBND thị xã KT phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 164, Điều 99, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn H.

Hủy một phần Quyết định số 2328/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của Ủy ban nhân dân thị xã KT về việc tạm giao quỹ đất công cho Ủy ban nhân dân xã BT quản lý đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, đất tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An.

Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thị xã KT về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn H đối thửa đất số 474, TBĐ số 04, đất tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An là trái quy định pháp luật.

Buộc Ủy ban nhân dân thị xã KT thực hiện nhiệm vụ công vụ tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn H đối với thửa đất số 474, TBĐ số 04, đất tọa lạc tại xã BT, thị xã KT, tỉnh Long An theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Trương Văn H tự nguyện chịu 1.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; ông H đã nộp xong.

3. Về án phí:

Ông Trương Văn H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, hoàn trả cho ông H 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An theo biên lai thu số 0000450 ngày 21/6/2019.

Ủy ban nhân dân thị xã KT phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ