vanban.org

Bản án 46/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị Qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 c a Uỷ ban thư ng vụ Quốc hội qu định về m c thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ ph Tòa án. Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện c a bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 46/2019/DS-ST
Ngày: 09-8-2019
V/v tranh chấp “Hợp đồng
góp h i”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng.

2. Ông Tôn Phước Thuận.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngu n Thị Di m Thú – Thư ký Tòa án nhân dân hu ện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụ Thù Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng g p hụi” theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 19/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Bà Hu nh Thị Thanh T, sinh năm: 1966 (C mặt).

2. Ông Phạm Anh T, sinh năm: 1965 (V ng mặt).

Ngư i đại diện theo qu ền c a ông T: bà Hu nh Thị Thanh T, sinh năm 1966. (văn bản qu ền ngà 19/9/2018). (C mặt).

Cùng địa chỉ: số 46, T, phư ng B, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: bà Ngu n Thị Lệ T, sinh năm: 1980 (V ng mặt).

Địa chỉ: số 563, t 19, ấp A, x B, hu ện C, tỉnh An Giang.

- Ngư i c qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Ngu n Ngọc C, sinh năm: 1954 (V ng mặt).

2. Bà Trần Thị V, sinh năm: 1959 (V ng mặt).

Cùng địa chỉ: số 563, t 19, ấp A, x B, hu ện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, t tự khai và quá trình giải qu ết vụ án bà Hu nh Thị Thanh T trình bày: Vào khoảng năm 2014 do chị T là ngư i giúp việc trong gia đình c a bà nên vợ chồng bà tham gia chơi nhiều dâ hụi (không nhớ cụ thể bao nhiêu dâ hụi), trong đ c dâ hụi 500.000 đồng, dâ hụi 1.000.000 đồng, do chị T làm ch hụi, vì tin tưởng nên giữa vợ chồng bà và chị T không làm giấ hụi. Sau khi v hụi thì vợ chồng bà và chị T có t ng kết lại số tiền nợ hụi mà chị T còn nợ là 179.500.000 đồng. Tu nhiên, chị T không trả cho vợ chồng bà số tiền hụi còn thiếu, đến ngà 30/12/2016 thì vợ chồng bà Cạnh, ông Việt (cha, mẹ ruột c a chị T) c đồng ý bàn giao căn nhà để trả nợ tha cho chị T theo biên bản bàn giao nhà ngà 30/12/2016. Sau đ , bà Cạnh, ông Việt không thực hiện việc bàn giao nhà nên ngà 22/6/2018, bà và bà V c tiến hành lập vi b ng trong đ c nội dung bà V cam kết trả cho vợ chồng bà số tiền trên. Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ ngu ên êu cầu khởi kiện, êu cầu chị T, ông C, bà V liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền hụi 179.500.000 đồng (Một trăm bả mươi ch n triệu, năm trăm ngahìn đồng), không êu cầu t nh l i.

Ngư i c qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị V c t tự khai trình bà : con gái bà là T làm ch hụi và mất khả năng thanh toán, còn nợ lại tiền hụi c a bà T, ông T là 179.500.000 đồng. Sau đ , bà và bà T c ký vi b ng ngày 22/6/2018 với nội dung bà đồng ý trả nợ tha cho chị T. Ông C (chồng bà) tu không ký tên nhưng biết sự việc và đồng ý cùng bà trả số tiền trên cho bà T, ông T.

Bị đơn bà Ngu n Thị Lệ T, ngư i c qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngu n Ngọc C đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần th hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải nhưng v ng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến c a bà T, ông C về nội dung đơn khởi kiện c a bà T, ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên c u các tài liệu c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về th tục tố tụng:

Bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T khởi kiện chị Ngu n Thị Lệ T. Chị Ngu n Thị Lệ T c nơi cư trú tại ấp A, x B, hu ện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân hu ện Chợ Mới thụ lý giải qu ết là đúng thẩm qu ền được qu định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Ngu n Thị Lệ T, ngư i c qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngu n Ngọc C, bà Trần Thị V đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần th hai nhưng vẫn v ng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng mặt theo qu định tại Điều 227, 228 c a Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T khởi kiện êu cầu chị Ngu n Thị Lệ T, ông Ngu n Ngọc C, bà Trần Thị V liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền hụi còn nợ 179.500.000 đồng (Một trăm bả mươi ch n triệu, năm trăm nghìn đồng), không êu cầu t nh l i. Căn c các ch ng c do ngu ên đơn cung cấp là vi b ng ngà 22/6/2018 được ký giữa bà T và bà T c nội dung: “Hộ khẩu c a con là Lệ T còn chung hộ khẩu với cha mẹ và số tiền còn lại tôi cam kết sau 03 tháng kể từ ngà lập vi b ng sẽ thanh toán d t điểm” và nội dung trình bà c a bà V tại t tự khai “tôi c biết việc T làm ch hụi và mất khả năng thanh toán, hiện còn nợ bà T, ông T số tiền 179.500.000 đồng”.

Mặt khác, theo l i khai c a chị Phạm Thị Thú V, bà Ngu n Thị Phương Ntại các biên bản lấ l i khai ngà 06/5/2019 thì bà N, chị V xác định c biết việc giữa bà T, ông T có tham gia nhiều dâ hụi c a chị T và chưa hốt hụi, riêng số tiền hụi cụ thể thì không r bao nhiêu, bà Nga còn là ngư i trực tiếp nhận tiền từ bà T để đ ng hụi cho chị T. Ngoài ra, các l i khai trên còn phù hợp với ch ng c là biên bản hòa giải tại ấp A, x B bà V cũng c l i khai chị T còn nợ c a bà T, ông T số tiền 179.500.000 đồng, biên bản xác minh ngà 24/4/2019.

Trong quá trình giải qu ết vụ án, Tòa án đ tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải nhưng chị T cũng không gửi bất k văn bản nào phản đối êu cầu khởi kiện và các tài liệu, ch ng c mà ngu ên đơn cung cấp. Do đ , đâ là những tình tiết không phải ch ng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấ mặc dù giữa bà T, ông T và chị T khi xác lập hợp đồng g p hụi không làm giấ hụi và không c giấ t thể hiện số tiền hụi mà chị T còn nợ c a bà T, ông T nhưng qua các ch ng c là vi b ng ngà 22/6/2018, t tự khai c a bà V, l i khai c a bà N, chị V, biên bản xác minh ngà 24/4/2019, c cơ sở xác định giữa bà T, ông T và chị T có thỏa thuận về việc g p hụi, bà T, ông T là hụi viên, hợp đồng g p hụi được xác lập trên cơ sở tự ngu ện, không vi phạm điều cấm c a pháp luật, không trái đạo đ c x hội, không bị lừa dối ha ép buộc nên đâ là giao dịch hợp pháp. Do chị T vi phạm nghĩa vụ như đ thỏa thuận nên chị T phải c nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn nợ cho bà T, ông T.

Đối với êu cầu buộc chị T, ông C, bà V cùng liên đới trả số tiền hụi còn thiếu là 179.500.000 đồng c a bà T, ông T, Hội đồng xét xử xét thấ ông C, bà V không trực tiếp giao kết hợp đồng với chị T, tại vi b ng ngà 22/6/2018 chỉ c chữ ký c a bà V, bà T và nội dung vi b ng chỉ thể hiện cam kết c a bà V trả số tiền còn lại mà không xác định r số tiền cụ thể, mặc dù tại t tự khai bà V c l i khai đồng ý trả nợ cho chị T nhưng tại phiên tòa bà V v ng mặt nên không ghi nhận được sự tự ngu ện c a bà V. Ngoài ra, ông C không ký tên vào vi b ng mà chỉ ký vào biên bản bàn giao nhà ngà 31/12/2016, không c ch ng c thể hiện ý kiến về việc đồng ý cùng bà V trả tha số tiền hụi mà chị T còn nợ c a bà T, ông T nên không c cơ sở xem xét trách nhiệm liên đới c a ông C, bà V đối với số tiền hụi còn nợ c a chị T.

Vì vậ , Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện c a bà T, ông T buộc chị T c trách nhiệm trả cho bà T, ông T số tiền hụi còn thiếu 179.500.000 đồng theo qu định tại các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng c a Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải qu ết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước th i điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Việc tuân theo pháp luật trong th i gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải qu ết vụ án đ thực hiện đúng, đầ đ qu định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Việc tuân theo pháp luật c a Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Đ tuân theo đúng các qu định c a Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, th tục và qu ền tranh tụng tại phiên tòa.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng c a ngư i tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải qu ết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước th i điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Đối với ngu ên đơn: Bà Hu nh Thị Thanh T đồng th i là ngư i đại diện

qu ền cho ông Phạm Anh T, từ khi thụ lý vụ án đến phiêm tòa hôm na đ thực hiện đúng theo qu định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đối với bị đơn và ngư i liên quan: Các bà Ngu n Thị Lệ T, Trần Thị V và ông Ngu n Ngọc C, đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng v ng mặt không có lý do nên Hội đồng xét tiến hành xét xử v ng mặt là phù hợp Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Tại t tự khai (không ghi ngà , tháng, năm), bà V thừa nhận bà T c làm ch hụi và nợ bà T, ông T 179.500.000 đồng, đồng ý cùng bà T trả nợ. Ph a ông C, bà T v ng mặt không c lý do và không c ý kiến phản hồi đối với êu cầu khởi kiện c a bà T, ông T.

Xét thấ , hợp đồng hụi giữa bà T, ông T với bà T được xác lập trên cơ sở tự ngu ện, thỏa thuận và được thể hiện b ng l i khai c a những ngư i làm ch ng Ngu n Thị Phương N, Phạm Thị Thú V và bà V, xác định bà T có làm ch nhiều dâ hụi, bà T, ông T c tham gia với tư cách hụi viên. Bà T đ được giao, nhận đầ đ các văn bản tố tụng c a Tòa án thể hiện êu cầu c a bà T, ông T êu cầu trả 179.500.000 đồng nhưng bà T không c ý kiến phản hồi nên căn c Điều 471 Bộ luật dân sự, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận êu cầu khởi kiện c a ông T, bà T, buộc bà T trả 179.500.000 đồng.

Đối với ông C, bà V là cha mẹ c a bà T, không trực tiếp giao kết hợp đồng với ông T, bà T nên không c cơ sở buộc liên đới cùng bà T trả 179.500.000 đồng. Tuy bà V c tự ngu ện cùng bà T trả ông T, bà T 179.500.000 đồng nhưng v ng mặt nên không ghi nhận sự tự ngu ện c a bà V.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn c qu định tại các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự:

- Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện c a ông Phạm Anh T, bà Hu nh Thị Thanh T.

- Buộc bà Ngu n Thị Lệ T trả ông Phạm Anh T, bà Hu nh Thị Thanh T 179.500.000 đồng.

- Không chấp nhận êu cầu khởi kiện c a ông Phạm Anh T, bà Hu nh Thị Thanh T đối với ông Ngu n Ngọc C, bà Trần Thị V

Về án ph : chị Ngu n Thị Lệ T phải chịu án ph dân sự sơ thẩm theo qu định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn c vào các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Các Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nghị Qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 c a Uỷ ban thư ng vụ Quốc hội qu định về m c thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ ph Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện c a bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T.

- Không chấp nhận êu cầu khởi kiện c a ông Phạm Anh T, bà Hu nh Thị Thanh T đối với ông Ngu n Ngọc C, bà Trần Thị V.

- Buộc bà Ngu n Thị Lệ T c nghĩa vụ trả cho bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T số tiền 179.500.000 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng).

- Về án ph dân sự sơ thẩm:

Chị Ngu n Thị Lệ T phải chịu án ph dân sự sơ thẩm là 8.975.000 đồng (Tám triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)

Bà Hu nh Thị Thanh T được nhận lại số tiền tạm ng án phí 4.487.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi bảy nghìn đồng) đ nộp theo biên lai thu tiền số 0000034 ngày 10/8/2018 c a Chi cục thi hành án dân sự hu ện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Kể từ ngà c đơn êu cầu thi hành án c a ngư i được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i c a số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất qu định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bà Hu nh Thị Thanh T, ông Phạm Anh T được qu ền kháng cáo trong th i hạn 15 ngà kể từ ngà tu ên án.

Chị Ngu n Thị Lệ T, ông Ngu n Ngọc C, bà Trần Thị V được qu ền kháng cáo trong th i hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc bản án được niêm ết.

Trư ng hợp bản án được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ