vanban.org

Bản án 46/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!
HUYỆN!CÁI!BÈ,!TỈNH!TIỀN!GIANG
Bản án số:46/2019/DS-ST
Ngày: 11/4/2019.
V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại

về tài sản và sức khỏe”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CÁI!BÈ,!TỈNH!TIỀN!GIANG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông !Phạm!Thanh!Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

+Ông Trần!Văn!Nhu.!

+ÔngVõ!Văn!Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi!Quốc!Hiển - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giangtham gia phiên toà: Ông Nguyễn!Văn!Hải – kiểm sát viên.

Ngày11 tháng4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 415/2018/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2018về tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:38/2019/QĐXXST-DS ngày 08tháng3năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông!Lê!Văn!P, sinh năm: 1965 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Bùi!Văn!Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Anh Bùi!Văn!H, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!

1/!Nguyên!đơn:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/12/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Lê Văn P trình bày:

Anh P có nuôi 2186 con vịt chạy đồng. Tháng 6/2015 ông có thả chạy đồng tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, thả vịt chung cánh đồng của anh P là bầy vịt của ông Bùi Văn Đ. Khoảng 17 giờ ngày 31/7/2015 con trai ông Đ là anh Bùi Văn H có qua nói với anh P là bị mất vịt, yêu cầu cho kiểm tra bầy vịt của anh P, sau khi kiểm tra anh H nói vịt của anh P dư 40 con. Anh P nói để kiểm tra lại nếu dư thì trả. Sau đó anh P kiểm tra bầy vịt lại nhưng không có dư, anh cũng không nói cho ông Đ biết. Ngày 21/8/2015 ông Đ và anh H cùng 04 người nữa xông vào trại vịt của anh P, anh H mở cửa chuồng còn ông Đ và 01 người giữ anh P lại, 03 người khác lùa vịt đi. Sau đó anh P rượt theo thì xảy ra đánh nhau, anh P bị đánh ngấc xỉu. Được người dân báo Công an huyện Tân Hưng chặn tàu vịt ông Đ lại, do sợ vịt chết nên anh P đồng ý cho ông Đ chạy tàu vịt về Tiền Giang mà không tiến hành kiểm đếm vịt. Sau đó anh P kiểm tra lại vịt thì bị mất 300 con. Đồng thời anh P sau khi bị đánh anh P nhập viện điều trị tại Trung Tâm Y tế huyện Tân Hưng từ ngày 21/8/2015 đến 27/8/2015 thì xuất viện.

Nay anh P yêu cầu ông Đ và anh H phải liên đới bồi thường cho ông 300 con vịt bị lùa đi mất, với giá 90.000 đồng/1con. Và yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị do bị ông Đ và anh H đánh là 1.390.495 đồng.

Tại phiên toà hôm nay anh đồng ý với lời khai trước đây của ông Đ là số vịt của anh P bị ông Đ lùi đi là 110 con và giá vịt tại thời điểm tháng 7/2015, tại huyện Tân Hưng, Long An là 60.000đ/1 con. Anh không yêu cầu xác minh thẩm định, định giá lại tài sản là số vịt bị mất và trị giá số vịt tranh chấp.

2/!Bị!đơn!ông!Bùi!Văn!Đ!và!anh!Bùi!Văn!H!tại!phiên!toà!hôm!nay!vắng! mặt!không!lý!do!nhưng!các!lời!khai!trong!qúa!trình!giải!quyết!vụ!án!!trình! bày:!

- Vào năm 2015 ông Đ có thả vịt chung cánh đồng với bầy vịt của anh P. Do bị mất vịt con ông Đ có kiểm tra thì vịt anh P bị dư nhưng anh P không trả. Do bức xúc ông Đ có đến trại vịt anh P đang nhốt lùa đi 110 con vịt nhưng chưa lùa được về chuồng vịt của ông Đ thì bị thất lạc. Khi lùa vịt đi anh P có cầm dao cảnh lại nên giữa ông Đ với anh P có xảy ra xô xát nhẹ.

Qua yêu cầu của anh P, ông Đ không đồng ý bồi thường tiền vịt bị mất và tiền điều trị thương tích cho anh P.

- Anh H cũng khai là: Cha anh là ông Đ, việc nuôi vịt chạy đồng và bị nhập vịt qua bầy vịt anh P. Cha anh có lùa vịt của anh P 110 con nhưng không bắt được con nào. Giữa hai bên có xảy ra xô xát hai bên đều có thương tích. Qua yêu cầu khởi kiện của anh P, anh không đồng ý bồi thường.

Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên phát biểu về trình tự thủ tục tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án yêu cầu áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự xác minh làm rõ những người đi cùng ông Đ và anh H để xác định trách nhiệm của những người tham gia vụ án này.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]!Về!tố!tụng!dân!sự:

- Về Thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Lê Văn P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khoẻ đối với ông Bùi Văn Đ và anh Bùi Văn H có địa chỉ ấp X, xã Y, huyện Z. Theo quy định tại khoản 3, Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, c khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè.

- Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Đối với ông Bùi Văn Đ và anh Bùi Văn H dù được Tòa án thông báo thụ lý vụ án về yêu cầu khởi kiện của anh P và được triệu tập hợp lệ đến Tòa để giải quyết vụ án nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của mình. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Đ và anh H.

- Về quan hệ tranh chấp:

Ông Phương có đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Đ và anh H bồi thường tiền chi phí điều trị thương tích do bị đánh và bồi thường trị giá bằng tiền số vịt bị mất. Do đó cần xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “ Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản” là đúng quy định pháp luật.

-Về định giá tài sản tranh chấp:

Vụ án xãy ra tại thời điểm tháng 7/2015 tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn khai là mất 300 con vịt, có giá là 90.000đ/1 con. Bị đơn xác định là lùa đi 110 con vịt và tại thời điểm này vịt có giá là 60.000đ/1 con. Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn anh P thống nhất với số vịt bị mất là 110 con. Trị giá là 60.000đ/1 con theo ý kiến của phía bị đơn đưa ra trước đây. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận thống nhất về số vịt tranh chấp là 110 con với trị giá là 60.000đ/1 con. Không thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp là đúng quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2/ Về nội dung vụ án:

+!Xét!yêu!cầu!bồi!thường!thiệt!hại!về!sức!khoẻ!của!nguyên!đơn!anh!P:

-Qua hồ sơ thể hiện ngày 21/8/2015 ông Đ, anh H và 04 người lạ mặt xông vào trại vịt của anh mở cửa chuồng lùa vịt đi, anh P cầm dao rượt theo thì xãy ra đánh nhau với ông Đ và anh H, anh P bị đánh gây thương tích điều trị tại Trung tâm y tế huyện Tân Hưng từ ngày 21/8/2015 đến 27/8/2015. Nay anh yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị là 1.369.495đ. Còn ông Đ và anh H xác định không có đánh anh P nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu anh P.

Nhận thấy anh P yêu cầu ông Đ và anh H bồi thường thiệt hại sức khoẻ có cung cấp cho Toà án hồ sơ khám chửa bệnh do bị đánh gây thương tích, điều trị thương tích từ ngày 21/8/2015 đến ngày 27/8/2015, với tồng số tiền chi phí điều trị hợp lý có hoá đơn chứng từ là 1.369.495đ. và có giấy chứng nhận thương tích ngày 27/8/2017 của Trung tâm y tế huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

Còn anh ông Đ xác định là và thời gian trên có đến trại vịt của anh P nhằm bắt lại vịt nhập đàn và có lùa vịt anh P đi. Khi anh P cầm dao rượt theo thì giữa ông Đ, anh H với anh P có xãy ra xô xác đánh nhau, anh P bị thương tích do bị đánh. Điều này cũng phù hợp với lời khai người làm chứng là ông Nguyễn Văn Lèo và anh Nguyễn Hữu Nghĩa xác định là có thấy ông Đ, anh H với anh P xãy ra xô xác khi ông Đ và anh H đến trại vịt của anh P lùa đi.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông Đ với anh H có gây thương tích cho anh P. Do đó Hội đồng xét xử cần buộc hai người này liên đới bồi thường tiền thuốc điều trị là 1.369.495đồng cho anh P là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

+!Xét!yêu!cầu!bồi!thường!tiền!trị!giá!110!con!vịt,!với!giá!là!60.000đ/1!con! của!anh!P.

Nhận thấy vào ngày 21/7/2015, ông Đ cho rằng vịt của ông Đ nhập vào bầy vịt của anh P, nhưng anh P không trả lại. Ông Đ cùng con là anh H và 04 người nữa xông vào trại vịt của anh P mở cửa chuồng lùa vịt đi. Tại phiên toà hôm nay ông Đ vắng mặt nhưng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án trước đây ông Đ khai là ông Đ có lùa 110 con vịt của anh P đi nhưng sau đó xãy ra tranh chấp nên bị thất lạc. Còn anh H cũng khai là có cùng ông Đ đến trại vịt của anh P mở cửa chuồng lùa lại số vịt của anh nhập đàn nhưng xãy ra tranh chấp nên vịt bị thất lạc. Như vậy có đủ căn cứ xác định số vịt trên là tài sản của anh P. Ông Đ và anh H cùng nhiều người nữa đến tự ý mở cửa cuồng lùa đi, không được sự đồng ý của anh P.

Mặt khác do ông Đ và anh H cho rằng vịt của mình nhập đàn với vịt anh P đến đến lùa đi lấy lại, còn những người đi chung mục đích là phụ lùa vịt cho ông Đ và anh H. Do đó ông Đ và anh H phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với tài sản là số vịt hai người làm mất của anh P là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay anh P không yêu cầu thẩm định và định giá lại tài sản tranh chấp mà đồng ý theo ý kiến của bị đơn. Xét thấy việc thoả thuận này là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận là buộc ông Đ và anh H bồi thường cho anh P 110 con vịt với giá là 60.000đ/1 con = 6.600.000đ là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của anh P nên ông Đ và anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

*Tại phiên toà hôm nay: Kiểm sát viên tham gia phiên toà có phát biểu về trình tự, thủ tục tố tụng áp dụng để giải quyết vụ án của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định pháp luật. Không có ý kiến gì.

Về nội dung vụ án:Yêu cầu dừng phiên toà thu thập chứng cứ là những người đi chung ông Đ và anh H cùng lùa vịt của anh P.

-Nhận thấy ông Đ và anh H cùng bốn người nữa đến trại vịt của anh P, anh H mở cửa chuồng cho những người đi chung lùa vịt đi, nhằm mục đích là ông Đ và anh H lấy lại số vịt mà hai ông khai là của hai ông nhập đàn với vịt anh P mấy hôm trước. Mặt khác ông Đ cũng thừa nhận là lùa đi 110 con vịt nhưng bị thất lạc không bắt được. Như vậy những người đi chung cùng lùa vịt của anh P là theo ý kiến của ông Đ và anh H. Mặt khác những người này có quen biết với ông Đ và anh H, nhưng hai ông cũng không cung cấp được họ tên và địa chỉ cụ thể. Do đó có đủ cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường trong vụ án này là của ông Đ và anh H. Do đo Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết tạm dừng phiên toà để ghi lời khai của những người này theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay cũng đủ cơ sở xem xét giải quyết vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

- Căn cứ khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 357, 584, 585, 586, 587, 588 589, 590 Bộ luật dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:!!

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn P.

Buộc ông Bùi Văn Đ và anh Bùi Văn H liên đới bồi thường cho anh Lê Văn P số tiền thiệt hại về sức khoẻ bị xâm hại là 1.369.495 đồng và tài sản bị xâm hại là 6.600.000 đồng. Cộng chung là 7.969.495 đồng (bảy triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng).

Thời gian bồi thường: Bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đ và anh H chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự

3. Về án phí: ông Đ và anh P phải chịu 398.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho anh P 775.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 07986, ngày 14/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người vắng mặt tại phiên toà hôm nay được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ