- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp giật tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Đinh Quách Phùng D phạm tội:"Cướp giật tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HSST Ngày: 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Quốc Thái
2/ Bà Phan Thị Diệu Hoa
Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, thành phố H
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố H tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 51/2018/HSST ngày 04 tháng 04 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/QĐXXST-HS ngày 10/04/2018 đối với bị cáo:
Đinh Quách Phùng D; sinh năm: 1989; tại Thành phố H; thường trú: 216/45 đường H, phường 13, quận 10, Thành phố H; chỗ ở: Số 19 tổ 1, Khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Phùng T và bà Đinh Thị Kim P; Có vợ và 01 con sinh năm 2016.
Nhân thân bị can:
Từ nhỏ sống cùng gia đình và làm thuê phụ giúp gia đình tại 216/45 đường H, phường 13, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.
Ngày 12/12/2006 bị tòa án nhân dân quận T Thành phố H xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 22/5/2009 bị tòa án nhân dân quận T Thành phố H xử phạt 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 20/5/2012.
Ngày 16/01/2017 có hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị Chủ tịch Ủy ban xã M, huyện C, thành phố H ra quyết định số 03/QĐ-UBND, đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 23/01/2017, Chủ tịch Ủy bản xã M ra quyết định thu hồi quyết định số 03/QĐ-UBND với lý do Đinh Quách Phùng D có nơi cư trú ổn định tại Tổ 1, Khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh B.
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giam từ ngày 20/11/2017- Có mặt.
Trang 1
Người bị hại:
Bà Đinh Như Q; sinh năm 1996; trú tại: 136 Đường số 8, phường B, quận Bình T, Thành phố H – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h20 phút ngày 20/11/2017 Đinh Quách Phùng D điều khiển xe máy hiệu Honda Future Neo, BS: 86T1-5770 trên đường T 1 hướng từ Trương Vĩnh K ra đường Độc L thì nhìn thấy chị Đinh Như Q đang dừng xe gắn máy cùng chiều trước nhà số 5 đường T 1, phường Tân T, quận T, trên tay cầm điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng. D liền nảy sinh ý định cướp giật nên vòng xe lại, đồng thời cho xe chạy lên ép sát bên trái chị Q, dùng tay trái giật điện thoại, rồi tăng ga bỏ chạy thì bị chị Q truy hô và đuổi theo. Ngay lúc này, D ném điện thoại của chị Q xuống đường và tiếp tục bỏ chạy ra đến trước nhà số 856 Âu C, phường 14, quận Tân B thì chị Q đuổi kịp tông vào đuôi xe làm D té ngã và được quần chúng hỗ trợ bắt giữ D cùng tang vật giao cho Công an xử lý. Tại cơ quan Công an, Đinh Quách Phùng D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Theo kết luận định giá tài sản số 362/KL ngày 08/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc điện thoại nêu trên có trị giá 13.500.000 đồng.
Vật chứng:
-01 ĐTDĐ Iphone 7 Plus màu vàng, chị Đinh Như Q đã nhận lại và không có yêu cầu gì.
-01 áo thun ngắn tay màu xanh và 01 quần kaki lửng màu xanh là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
-01 xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu xám, biển số: 86T1-5770; số máy: không có; số khung: 35058I015967 là phương tiện phạm tội. D khai mua xe không có giấy tờ của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại khu vực thị trấn D, huyện D, tỉnh B để sử dụng.
Xác minh biển số: 86T1-5770 do chị Nguyễn Thị Mỹ T, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình T đứng tên đăng ký sở hữu. Năm 2010, chị T bán lại cho một người tên M (chưa rõ lai lịch) nhưng chưa sang tên. Do việc mua bán đã hoàn tất nên chị không có yêu cầu nhận lại biển số. Xác minh số khung, kết quả không có trong dữ liệu quản lý của cơ quan Công an. Xe gắn máy trên hiện đang nhập kho chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 02 tháng 04 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố bị cáo Đinh Quách Phùng D về tội:"Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên Tòa:
Trang 2
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận T giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 136; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Quách Phùng D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo Đinh Quách Phùng D thống nhất v ớ i tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố, không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại,người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15h20 phút ngày 20/11/2017 Đinh Quách Phùng D điều khiển xe máy hiệu Honda Future Neo, BS: 86T1-5770 thấy chị Đinh Như Q đang dừng xe gắn máy cùng chiều trước nhà số 5 đường T 1, phường Tân T, quận T, trên tay cầm điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng. D liền vòng xe lại, đồng thời cho xe chạy lên ép sát bên trái chị Q, dùng tay trái giật điện thoại, rồi tăng ga bỏ chạy thì bị chị Q truy hô và đuổi theo. Ngay lúc này, D ném điện thoại của chị Q xuống đường và tiếp tục bỏ chạy ra đến trước nhà số 856 Âu C, phường 14, quận Tân B thì chị Q đuổi kịp tông vào đuôi xe làm D té ngã và được quần chúng hỗ trợ bắt giữ D cùng tang vật giao cho Công an xử lý.
Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đinh Quách Phùng D phạm tội “Cướp giật tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Do bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện để cướp giật điện thoại của người bị hại, nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố bị cáo Đinh Quách Phùng D theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu
Trang 3
xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh. Lợi dụng sơ hở của người bị hại, công khai cướp giật, chiếm đoạt tài sản ngay trên đường giao thông, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
Về nhân thân:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo D đã từng bị xét xử về hành vi cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm h điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, có trị giá 13.500.000 đồng, đã được Công an quận T thu hồi trả lại cho người bị hại. Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không giải quyết thêm.
Về xử lý vật chứng. Vật chứng trong vụ án gồm có:
-01 áo thun ngắn tay màu xanh và 01 quần kaki lửng màu xanh là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
-01 xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu xám, biển số: 86T1-5770; số máy: không có; số khung: RLHJC35058I015967 là phương tiện phạm tội. D khai mua xe không có giấy tờ của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại khu vực thị trấn D, huyện D, tỉnh B để sử dụng.
Xác minh biển số: 86T1-5770 do chị Nguyễn Thị Mỹ T, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình T đứng tên đăng ký sở hữu. Năm 2010, chị T bán lại cho một người tên M (chưa rõ lai lịch) nhưng chưa sang tên. Do việc mua bán đã hoàn tất nên chị không có yêu cầu nhận lại biển số. Xác minh số khung, kết quả không có trong dữ liệu quản lý của cơ quan Công an. Bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, do chiếc xe là vật chứng vụ án hơn nữa nguồn gốc chiếc xe chưa rõ xét nên cần đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu, quản lý sử dụng hợp pháp chiếc xe nêu trên trong vòng 6 tháng, hết thời hạn trên nếu không có người chủ sở hữu, quản lý sử dụng hợp pháp đến nhận, thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Đinh Quách Phùng D phạm tội:"Cướp giật tài sản"
Trang 4
Áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đinh Quách Phùng D 04(bốn) năm 03(ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 20 tháng 11 năm 2017.
[2] Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu xanh và 01 quần kaki lửng màu xanh .
- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự đăng báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu, quản lý sử dụng hợp pháp chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu xám, biển số: 86T1-5770; số máy: không có; số khung: RLHJC35058I015967 trong vòng 6 tháng, quá thời hạn 6 tháng mà không có người chủ sở hữu, quản lý sử dụng hợp pháp đến nhận thì tịch thu sung công chiếc xe nêu trên.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 03/PNK ngày 22 tháng 11 năm 2017 tại kho vật chứng Công an quận T).
[3] Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đinh Quách Phùng D nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân Tp. H; (1) -Viện kiểm sát nhân dân quận (3) T; -Văn phòng Cơ quan CSĐT; (1) -Sở Tư pháp TP. H; (1) - Trại giam và Bị cáo; (2) -Thi hành án dân sự quận T; (1) -Thi hành án hình sự; (2) - Người bị hại; (2) -Lưu, hồ sơ. (1) (3) Trang 5 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trang 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Mỹ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Mỹ |