- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe c…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1- khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HSST Ngày: 28/11/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Trịnh Thị Yến
2.Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đình Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2018/TLST-HS ngày 30/10/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1999, tại: xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Hoàng Thị X; gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2018 đến ngày 08/8/2018, tạm giam từ ngày 09/8/2018 đến nay; Có mặt.
* Bị hại:
1/ Mai Quang H- Sinh năm 2000; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga M, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
2/ Hoàng Anh Đ- Sinh năm 2000; địa chỉ: xóm 4, xã Nga B, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
* Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng):
1/ Võ Duy C - Sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).
2/ Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1968; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt).
3/ Trần Thanh B - Sinh năm: 1998; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
4/ Trần Xuân T - Sinh năm: 2001; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
5/ Trần Văn V; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)- Người giám hộ cho Trần Xuân T.
6/ Đỗ Văn L- Sinh năm: 1991 địa chỉ: Xóm 7, xã Nga H, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
7/ Trần Văn L- Sinh năm: 2002; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
8/ Mai Thị H1; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(vắng mặt)- Người giám hộ Trần Văn L
9/ Mai Văn N - Sinh năm: 1997; địa chỉ: Xóm 4, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
10/ Trần Tiến A - Sinh năm: 2000; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga B, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
11/ Trần Văn T; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga B, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt) - Người giám hộ Trần Tiến A
12/ Nguyễn Văn Tuấn - Sinh năm: 2000; địa chỉ: Xóm 8, xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
13/ Nguyễn Thị H; địa chỉ: Xóm 8, xã Nga B, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt) - Người giám hộ Nguyễn Văn T
14/ Mai Minh P - Sinh năm: 2000; địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn Nga S, huyện
Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
15/ Nguyễn Hữu D - Sinh năm: 2001; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga M, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
16/ Mai Thị L - địa chỉ: Ban chấp hành huyện đoàn Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt) - Người giám hộ Nguyễn Hữu D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h 30 phút, ngày 26/7/2018, Hoàng Anh Đ cùng Mai Quang H, Trần Tiến A, Nguyễn Văn T, Mai Minh P, Nguyễn Hữu D, đến xã Nga T để xem thiếu nhi tập chuẩn bị cho hội trại hè. Trong khi xem tập, Hoàng Anh Đ nhớ lại sự việc hồi chiều có xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Văn T, ở Nga T. Sau đó gặp Trần Xuân T đi từ nhà văn hóa ra và hỏi “có biết T” không, cùng lúc T điều khiển xe mô tô chở Mai Văn N và Trần Thanh B đi tới. T nhận ra Đ, người đã chửi bới mình lúc chiều, hai bên đã xảy ra lời qua tiếng lại, T nói “chúng mày đến đây đánh tao à”, đồng thời dùng tay đấm Tiến A, nhưng Tiến A né được. Thấy T và Tiến A đánh nhau. H, Đ, P chạy đến. Đ lấy tay ôm ghì cổ T, còn P, H dùng tay, chân đấm đá vào người T. T vùng thoát sự khống chế của Đ, dùng tay đấm lại nhóm người đang tấn công mình và lùi vào sân nhà văn hóa xóm 4, xã Nga T. Do nhóm của Đ tiếp tục tấn công nên T rút trong túi quần một con dao bấm cầm ở tay phải, bấm lưỡi dao bật ra và khua đâm về những người này. Lưỡi dao đâm vào H, nhưng H không biết bị đâm khi nào, khi thấy máu chảy ở ngực áo và tay áo, H mới biết mình bị đâm. Còn Đ cũng bị T đâm gây thương tích ở tay trái và ngực trái. Thấy nhóm thanh niên đánh nhau, ông Nguyễn Văn H đang làm nhiệm vụ giữ trật tự tại sân nhà văn hóa chạy đến can ngăn. Nhóm của Đ ra về, sự việc được dừng lại.
Sau khi gây thương tích cho Đ và H, T lẩn trốn đến nhà người quen. Chiều ngày 31/7/2018, đã ra đầu thú tại cơ quan điều tra Công an huyện Nga Sơn.
Đối với Hoàng Anh Đ được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa từ ngày 26/7/2018 đến ngày 03/8/2018. Chi phí điều trị cho quá trình trị các vết thương của Đ, gồm: Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa Nga Sơn là 1.010.000đ; tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa là 5.055.000đ; tiền thuốc là 1.250.000đ. Ngoài ra Đ yêu cầu bị cáo bồi thường về phục hồi sức khỏe là 4.000.000đ. Tổng cộng là 11.315.000đ. Quá trình điều trị, bị cáo đã bồi thường cho anh Đ số tiền là 4.500.000đ.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Hoàng Anh Đ ngày 27/7/2018 thể hiện: 01 vết thương vùng ngực bên trái ngang mức khoang liên sườn 7,8 kích thước khoảng 2cm, bờ sắc gọn; 01 vết thương vị trí mặt sau cách tay trái kích thước khoảng 12 x10 cm, bờ sắc gọn.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 495/2018/TTPY, ngày 03/8/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận dấu hiệu chính qua giám định đối với anh Hoàng Anh Đ: các sẹo vết thương phần mềm vùng khoang liên sườn 7-8 thành ngực sau bên trái; vùng mặt sau trong 1/3 dưới cánh tay trái; số lượng sẹo ít, kích thước từ nhỏ đến lớn 10% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 9; mục I; 3). Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (theo phương pháp cộng lùi; Điều 4, thông tư 20/2014) là 10%.
Đối với Mai Quang H, sau khi bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa từ ngày 26/7/2018 đến ngày 03/8/2018. Chi phí điều trị cho quá trình trị các vết thương của Huy gồm: Thuê xe từ Nga T đến bệnh viện huyện Nga Sơn là 100.000đ; xe cấp cứu tại bệnh viện tỉnh là 850.000đ; xe xuất viện về là 600.000đ; thuê xe đi tái khám (3/9/2018) là 800.000đ; tiền thuốc cấp cứu tại bệnh viện Nga Sơn là 175.000đ; Viện phí tại bệnh viện tỉnh là 4.825.000đ; Mua thuốc theo hóa đơn bác sỹ 2 lần là 3.975.000đ; chi giám định thương tật là 2.535.000đ; Công mẹ H chăm sóc 10 ngày x500.000đ/ngày là 5.000.000đ. Ngoài ra, H còn yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần là 40.000.000đ. Tổng cộng là 58.860.000đ. Quá trình điều trị, bị cáo đã bồi thường cho anh H số tiền 3.000.000đ.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Mai Quang H ngày 27/7/2018 thể hiện: 01vết thương kích thước dài 2cm, bờ sắc gọn dưới núm vú bên trái (cách núm vú 5cm).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 496/2018/TTPY, ngày 03/8/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận dấu hiệu chính qua giám định đối với anh Mai Quang H: Chấn thương, vết thương ngực hở gây tràn dịch, tràn khí khoang màng phổi trái; đã được phẫu thuật xử lý vết thương; hiện tại còn di chứng hình ảnh xẹp phổi thùy dưới và dày dính màng phổi trái, kèm ít khí màng phổi trái, ít dịch màng phổi hai bên 25% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 9; mục I; 3). Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (Theo phương pháp xác định cộng lùi) là 33%.
Vật chứng của vụ án: Một con dao bằng kim loại, màu đen (loại dao bấm), mũi dao nhọn Nguyễn Văn T dùng gây thương tích cho anh Đ và H, đã bị anh Đỗ Văn L ném xuống ruộng lúa, thuộc xóm 4, xã Nga H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn truy tìm nhưng không thấy.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nga Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T theo cáo trạng số 43 /CTr- VKSNS- TA, ngày 29/10/2018 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05 đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2018.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc Nguyễn Văn T phải:
+ Bồi thường cho anh Hoàng Anh Đ, gồm:
- Tiền thuốc và viện phí: 7.315.000đ;
- Tiền phục hồi sức khỏe từ 3.000.000đ đến 4.000.000 triệu đồng.
+ Bồi thường cho anh Mai Quang H, gồm:
- Tiền thuốc + viện phí: 8.975.000đ;
- Tiền thuê xe + điều trị: 2.350.000đ;
- Tiền công người chăm sóc: 2.000.000đ;
- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: từ 7.000.000đ đến 10.000.000đ;
- Tiền phục hồi sức khỏe: từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ.
* Về xử lý vật chứng: Do con dao đã bị vứt, cơ quan điều tra truy tìm nhưng không thấy nên không xem xét.
Bị cáo, bị hại H không có ý kiến tranh luận với VKS. Bị hại anh Hoàng Anh Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; anh Mai Quang H đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã gây thương tích cho anh Hoàng Anh Đức và Mai Quang Huy. Lời khai nhận tội phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận giám định thương tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
. Hành vi của bị cáo Tĩnh là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe cho anh Hoàng Anh Đ và Mai Quang H. Bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho các bị hại đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi dùng dao bấm trong người khi tham gia các hoạt động vui chơi ở nơi công cộng là thể hiện thái độ xem thường pháp luật, tính mạng, sức khỏe người khác. Bị cáo dùng dao bấm đâm và gây thương tích cho anh Hoàng Anh Đ bị thương, tỷ lệ tổn thương là 10%; anh Mai Quang H là 33%. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy rằng: đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn hại sức khỏe cho bị hại, còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho những bị hại, khắc phục một phần hậu quả; bị cáo đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo gây thương tích cho anh Hoàng Anh Đ và Mai Quang H nhưng anh Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.
. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về chi phí điều trị cũng như tổn thất về sức khỏe cho anh Đ và H là phù hợp quy định tại Điều 584, Điều 590 của BLDS. Cụ thể:
* Bồi thường cho anh Hoàng Anh Đ, gồm:
- Tiền viện phí bệnh viện (huyện + tỉnh): 5.583.000đ
- Tiền thuê xe đi bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa: 482.000đ;
- Tiền thuốc điều trị: 1.250.000đ;
- Tiền phục hồi sức khỏe: 4.000.000đ.
Tổng cộng: 11.315.000đ (Mười một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng)
* Bồi thường cho anh Mai Quang H, gồm:
- Tiền thuê xe đi bệnh viện (huyện + tỉnh): 1.550.000đ;
- Tiền viện phí bệnh viện (huyện +tỉnh): 5.000.000đ;
- Tiền thuốc điều trị ngày 28, 29/7/2018 và tiền thuốc mua theo chỉ định của Bác sỹ: 3.814.000đ
- Tiền công người chăm sóc 10ngày x 200.000đ/ ngày = 2.000.000đ
- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 10.000.000đ;
- Tiền phục hồi sức khỏe: 4.000.000đ;
Tổng cộng: 26.364.000đ (Hai sáu triệu ba trăm sáu tư nghìn đồng).
* Không chấp nhận những yêu cầu sau của bị hại Mai Quang H:
- Số tiền 220.000đ ( nằm ở mục 6 trong hóa đơn bán lẻ) được Bác sỹ chỉ định kê đơn thuốc vào ngày 9/8/2018, do bị tính hai lần tiền;
- Chi phí giám định thương tật: 2.535.000đ; căn cứ Điều 36 Luật giám định tư pháp; Điều 5 Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 của Thủ tướng chính phủ thì tiền giám định pháp y do Cơ quan trưng cầu giám định chi trả.
Trong giai đoạn điều tra gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho Hoàng Anh Đ 4.500.000đ và Mai Quang H 3.000.000đ, nên được trừ đi trong tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho những bị hại.
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục và căn cứ theo quy định tại các Điều 37; Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1- khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 05 năm (Năm) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2018.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại, gồm:
- Anh Hoàng Anh Đ tổng số tiền 11.315.000đ (Mười một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng), được trừ đi số tiền 4.500.000đ bị cáo đã bồi thường; còn lại 6.815.000đ (Sáu triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng), bị cáo phải bồi thường tiếp.
- Anh Mai Quang H tổng số tiền 26.364.000đ, được trừ đi số tiền 3.000.000đ bị cáo đã bồi thường; còn lại 23.364.000đ (Hai ba triệu ba trăm sáu tư nghìn đồng), bị cáo phải bồi thường tiếp.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
* Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 1.508.000đ (Một triệu năm trăm lẻ tám nghìn đồng) án phí dân sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Nga Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - Lưu hồ sơ vụ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Huệ |