vanban.org

Bản án 46/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C và Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Đức C 54(Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 26/05/2018. Xử phạt Hoàng Văn T 48(Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 26/05/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C và Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2018/HSST.
Ngày: 20-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Phạm Văn Quang

Bà: Đào Thị Thu Phương.

-Thư ký phiên toà: Ông: Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà: Ngô Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/HSST ngày 20 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/HSST- QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức C- Sinh năm: 1956; Nơi sinh, nơi cư trú:Số 58 VC, phường N , Thành phố N , tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn N Sinh năm:1934(Đã chết); con bà: Hoàng Thị L; Sinh năm: 1932(Đã chết). Bị cáo có 01 con sinh năm 1976.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 07/8/2012 bị TAND tỉnh Nam Định xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.

Nhân thân: Ngày 08/9/2009 đánh nhau bị Công an Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính.

- Ngày 15/7/1988 bị TAND tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”.

- Ngày 22/9/1992 bị TAND tỉnh Nam Hà xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”.

- Ngày 07/06/1996 bị TAND tỉnh Nam Hà xử phạt 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”.

- Ngày 15/11/2000 bị TAND tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Ngày 17/11/2004 bị TAND tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2018 cho đến ngày 01/6/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Văn T; Sinh năm: 1989; Nơi sinh, nơi cư trú: Xóm 6, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Văn M Sinh năm: 1955( Đã chết); con bà: Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1956.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 21/05/2008 bị TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đinh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 07/9/2010 bị TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đinh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 16/12/2011 bị TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đinh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 29/4/2014 bị TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Đinh xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Nhân thân: Ngày 5/4/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2018 cho đến ngày 01/6/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Cao Bá Th; Sinh ngày 10/07/1978; Nơi sinh, nơi cư trú: Số 4/35 đường T, phường N , Thành phố N , tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Cao Bá X Sinh năm: 1956( Đã chết); con bà: Trần Thị C, Sinh năm: 1961. Bị cáo có 01 con sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 10/02/1999 bị TAND Thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 05/7/2000 bị TAND Thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 27/08/2002 bị TAND tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cáp tài sản”

- Ngày 21/3/2006 bị TAND Thành phố Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2018, đến ngày 01/6/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Ngô Văn H; Sinh năm: 1974

Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 26/5/2018,bị cáo C điện thoại bảo Th xuống nhà T ở Xóm 6, xã T, huyện T đón C,Th đồng ý. Sau đó Th đi xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 18P9-0570 từ Thành phố N xuống khu vực chợ Đ, xã T, huyện T thì gặp C và T đang đứng đợi ở đó. Th điều khiển xe mô tô chở C và T theo hướng từ xã Tr ra đường sông C đi lên Thành phố N . Khi đi qua khu vực thôn M , xã B , huyện N, tỉnh Nam Định. Nguyễn Đức C phát hiện có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS 18K1-171.38 màu mận chín của anh Ngô Văn H đang dựng ở hông nhà và không có người trông coi, C bảo Th và T quay lại lấy trộm chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Th và T đồng ý. Th điều khiển xe quay lại, rồi dừng xe đứng cách vị trí nhà anh H khoảng 50m, C đi bộ vào kiểm tra xe và nổ máy thử nhưng không được. C ra ngoài nói với T vào lấy trộm xe, nhưng T không đồng ý vào một mình, nên cả hai thống nhất cùng vào lấy trộm xe, còn Th đứng ngoài cảnh giới. Sau đó C và T đi bộ đến nơi dựng xe, T dắt xe còn C đẩy phía sau di chuyển xe ra đường nơi Th đang đứng chờ sẵn. Do xe không nổ được máy nên T ngồi lên chiếc xe Dream vừa lấy trộm được của gia đình anh H, còn Th điều khiển xe Wave BKS 18P9 – 0570 chở C ngồi sau, để Th dùng chân đẩy từ phía sau chiếc xe Dream đi về phía cầu C G. Lúc này anh Lưu Văn H là hàng xóm của anh H phát hiện thấy hành vi của C và T nên đã gọi điện báo cho anh H. Sau khi kiểm tra, phát hiện chiếc xe Dream BKS 18K1-171.38 của mình đã bị mất trộm, anh H gọi điện thoại báo cho Công an xã B M, và cùng một số người dân xung quanh nhà hỗ trợ truy bắt ba đối tượng.

Các bị cáo di chuyển xe đến cầu B , xã B , huyện N, rồi rẽ phải sang cầu, tiếp tục đi về phía cánh đồng và cho xe dừng lại. C bảo Th mở cốp xe máy Wave, lấy tô vít đưa cho C và C mở mặt nạ xe Dream BKS 18K1-171.38 đấu dây điện để khởi động xe. Khi thấy đèn xin nhan của xe Dream phát sáng, C bảo T lắp mặt nạ của xe lại để đi tiếp, nhưng T không lắp mà cầm mặt nạ bỏ lên giá giữa của xe, rồi T nổ máy điều khiển xe Dream chở C còn Th một mình đi xe Wave BKS 18P9-0570. Khi cả ba đi đến cánh đồng thôn C, xã B, huyện N thì bị quần chúng nhân dân cùng Công an xã B bắt quả tang đưa về trụ sở UBND xã B làm việc.Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe Dream BKS 18K1-171.38 có màu mận chín có số khung: Y-012853, số máy: E-0012867;01xeWaveBKS 18P9-0570 số máyVPJL1P50FMG9366353; 01 kìm bằng kim loại có chuôi kìm được ốp nhựa dẻo màu đỏ đen có in nhãn hiệu TRTools; 01 cờ lê kim loại 10-12 màu trắng bạc; 01 cờ lê kim loại 10-13 màu ghi; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, các tài sản trên đều đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen trắng đã cũ, số tiền 115.000đ của Nguyễn Đức C; 01 điện thoại di động Nokia 1200 màu đen đã cũ, số tiền 700.000đ của Hoàng Văn T; 01 điện thoại di động G-Mobile màu đen đã cũ của Cao Bá Th.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/KLĐG ngày 28/05/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nam Trực kết luận: 01 xe Dream BKS 18K1-171.38 đã qua sử dụng của anh Ngô Văn H tại thời điểm xảy ra vụ việc có giá là 7.875.000 đồng.

Quá trình điều tra, chiếc xe Wave BKS 18P9-0570 số máy VPJL1P50FMG9366353, bị cáo Nguyễn Đức C khai mượn của một người có tên gọi là P sinh năm 1977 trú tại Khu 5 tầng, phường T, Thành phố N; chiếc xe này C đưa cho Cao Bá Th sử dụng, điều khiển chở C và T để thực hiện hành vi trộm cắp ngày 26/5/2018. Cơ quan CSĐT- Công an huyện Nam Trực đã tiến hành xác minh về nhân thân đối với người có tên là P cũng như nguồn gốc chiếc xe Wave BKS 18P9-0570 trên nhưng đến nay chưa có kết quả nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện Nam Trực tách ra điều tra, xác minh và xử lý sau.

Cơ quan CSĐT- Công an huyện Nam Trực đã truy tìm vật chứng là chiếc tô vít màu đen mà Nguyễn Đức C đã làm rơi khi bỏ chạy tại cánh đồng thôn C Ch xã B M nhưng không có kết quả.

Trong quá trình điều tra anh Ngô Mạnh H trình bày toàn bộ nội dung vụ án phù hợp lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo, anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Bản cáo trạng số: 46/CT-VKS ngày 17/08/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Đức C, Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố Cao Bá Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Hoàng Văn T, Cao Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức C từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Hoàng Văn T từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Cao Bá Th từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường vì vậy không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung cho tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại có chuôi kìm được ốp nhựa dẻo màu đỏ đen có in nhãn hiệu TRTools; 01 cờ lê kim loại 10-12 màu trắng bạc; 01 cờ lê kim loại 10-13 màu ghi; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt tiệp có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/08/2018 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức C 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen trắng đã cũ cùng số tiền 115.000đ; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1200 màu đen đã cũ và số tiền 700.000đ; trả lại cho bị cáo Cao Bá Th 01 điện thoại di động G-Mobile màu đen, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc xe Wave BKS 18P9-0570, bị cáo Nguyễn Đức C khai mượn của một người có tên gọi là P sinh năm 1977 trú tại Khu 5 tầng, phường T, Thành phố N. Tuy nhiên trong quá trình điều tra không xác định được về nhân thân đối với người có tên là Phương cũng như nguồn gốc chiếc xe Wave BKS 18P9-0570 nên Cơ quan CS ĐT Công an huyện Nam Trực tách ra điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bị hại đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, quá trình điều tra đã có lời khai này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26/05/2018, biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật ngày 26/05/2018, bản kết luận định giá số: 20/KLĐG ngày 28/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 26/05/2018 lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của gia đình anh Ngô Văn H ở các bị cáo Nguyễn Đức C, Hoàng Văn T và Cao Bá Th đã lén lút lấy 01 chiếc xe mô tô Honda nhãn hiệu Dream màu mận chín BKS18K1-171.38 của gia đình anh H, có trị giá là 7.875.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đối với bị cáo Nguyễn Đức C và Hoàng Văn T đều có 01 tiền án “tái phạm nguy hiểm” theo điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999 nay lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này của Nguyễn Đức C, Hoàng Văn T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.Vì vậy, bị cáo C và T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Th phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Đức C là người khởi xướng, rủ rê và đồng thời là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo T là người cùng bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội nên xếp vai trò thứ hai; còn lại bị cáoTh là người giúp sức nên giữ vai trò cuối cùng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Anh H đã nhận toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy không đặt ra để xem xét.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung cho tiêu hủy 01 kìm bằng kim loại có chuôi kìm được ốp nhựa dẻo màu đỏ đen có in nhãn hiệu TRTools; 01 cờ lê kim loại 10-12 màu trắng bạc; 01 cờ lê kim loại 10-13 màu ghi; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp. Tất cả các tài sản trên đã qua sử dụng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/08/2018 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức C 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen trắng đã cũ cùng số tiền 115.000đ; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1200 màu đen đã cũ và số tiền 700.000đ; trả lại cho bị cáo Cao Bá Th 01 điện thoại di động G-Mobile màu đen, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với chiếc xe Wave BKS 18P9-0570, bị cáo Nguyễn Đức C khai mượn của một người có tên gọi là P; sinh năm 1977 trú tại Khu 5 tầng, phường T, Thành phố N. Tuy nhiên trong quá trình điều tra không xác định được về nhân thân đối với người có tên là P cũng như nguồn gốc chiếc xe Wave BKS 18P9-0570 nên cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực tách ra điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: điểm g khoản 2, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C và Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt Nguyễn Đức C 54(Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 26/05/2018.

- Xử phạt Hoàng Văn T 48(Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 26/05/2018.

2. Căn cứ: khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Cao Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt Cao Bá Th 24(Hai mươi bốn)tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 26/05/2018.

3.Xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung cho tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại có chuôi kìm được ốp nhựa dẻo màu đỏ đen có in nhãn hiệu TRTools, kìm đã qua sử dụng; 01 cờ lê kim loại 10-12 màu trắng bạc đã qua sử dụng; 01 cờ lê kim loại 10-13 màu ghi đã qua sử dụng; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp đã qua sử dụng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/08/2018 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức C 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen trắng đã cũ cùng số tiền 115.000đ; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1200 màu đen đã cũ và số tiền 700.000đ; trả lại cho bị cáo Cao Bá Th 01 điện thoại di động G-Mobile màu đen, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với chiếc xe Wave BKS 18P9-0570, số máy VPJL1P50FMG9366353, cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực tách ra điều tra, xác minh và xử lý sau.

4.Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Đức C, Hoàng Văn T và Cao Bá Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ