vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ P phạm tội “

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mỹ P mức án 07 năm tù (Bày năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Mỹ P trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ P phạm tội “
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày: 30-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Phước Long và bà Ngô Thúy Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa

, tỉnh Đồng Tháp.

-

Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1974

Tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Khóm H, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Trần Văn H1, sinh 1938 và bà Cao Thị M, sinh 1943 (chết)

Chồng: Nguyễn Hữu A, sinh năm 1972 (chết)

Con: Có 01 con tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30/3/2000

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ, tạm giam: Không

Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Anh Phạm Tấn D1, sinh năm 1967 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm N, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

+ Chị Võ Trần Thụy L, sinh năm 1975 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm N, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1999 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm R, Phường U, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

+ Anh Lê Huyền, sinh năm 1989 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm R, Phường U, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

+ Anh Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30/3/2000 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm H, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 12/2017 anh Phạm Tấn D1 cùng vợ là chị Võ Trần Thụy L thỏa thuận thuê Trần Thị Mỹ P vào làm việc tại tiệm bán đồ điện gia dụng K tọa lạc khóm N, phường D, thành phố S, công việc của P là quét dọn, nấu cơm và những công việc khác theo sự phân công của anh D1, tiền công lao động anh D1 trả cho P mỗi tháng là 4.000.000 đồng.

Từ tháng 02/2018 trong lúc nhàn rỗi thì P có phụ giúp bán hàng cho anh D1 thu tiền và thối tiền lại cho khách hàng.

Từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2018 P lợi dụng lúc bán hàng thu tiền và thối tiền thừa cho khách, P tiếp cận hộc tủ đựng tiền, vừa thối tiền cho khách vừa lén lút lấy tiền trong hộc tủ đựng tiền của anh D1, chị L, mỗi ngày P lấy khoảng 500.000 đồng rồi cất giấu trong người.

Từ tháng 6/2018 đến ngày 11/8/2018 P lén lút lấy tiền nhiều hơn, mỗi ngày lấy từ 3.200.000 đồng đến 3.700.000 đồng, cuối ngày về nhà kiểm tra số tiền lấy được rồi đem cất giấu.

Đến ngày 11/8/2018 anh D1 xem lại camera an ninh tại nhà thì phát hiện P có hành vi lén lút lấy tiền rồi cất giấu vào trong người nên đến Công an trình báo.

Quá trình điều tra P thừa nhận từ tháng 4/2018 đến ngày 11/8/2018 đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tiền của anh D1, chị L, sau mỗi lần chiếm đoạt tiền, P về nhà cất giấu không sử dụng tiền nhằm mục đích để xây sữa chữa nhà, tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 250.000.000 đồng. Sau khi bị cơ quan điều tra làm việc P đã nộp lại đã hoàn trả cho anh D1, chị L nhận số tiền 250.000.000 đồng xong.

Tại phiên tòa, anh D1 và chị L trình bày: Số tiền bị mất khoảng 400.000.000đ nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh, anh D1 và chị L thống nhất số tiền P chiếm đoạt là 250.000.000đ và đã nhận lại xong, không yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình điều tra, anh Phạm Tấn D1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 ổ cứng hiệu Seagate, 01 USB ghi lại hình ảnh Trần Thị Mỹ P thực hiện hành vi phạm tội. Đối với ổ cứng hiệu Seagate, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh D1 nhận xong.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSND-TPSĐ ngày 18/10/2018, Viện k

Trần Thị Mỹ P về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

p dụng Điểm a Khoản 3 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ P về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 05 năm

06 năm .

xử lý vật chứng

, xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại không có ý kiến tranh luận.

Người làm chứng không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

đủ cơ sở

: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến ngày 11/8/2018, tại cửa hàng bán đồ điện gia dụng K tọa lạc khóm N, phường D, thành phố S, Trần Thị Mỹ P đã thực hiện hành vi nhiều lần lén lút chiếm đoạt tiền của anh Phạm Tấn D1 và chị Võ Trần Thụy L thông qua việc bán hàng và thối tiền cho khách, số tiền chiếm đoạt là 250.000.000 đồng nhằm mục đích tư lợi cá nhân. nên hợp pháp của công dân được pháp

đã

của bị hại trong việc quản lý tài sản, nên

đã có hành vi lén lút

tư lợi cá nhân. thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: thời gian phạm tội là vào ban ngày, địa điểm phạm tội là tại cửa hàng bán đồ điện gia dụng K tọa lạc khóm N, phường D, thành phố S, thuộc khu vực có đông dân cư, tại cửa hàng có các nhân viên bán hàng, thường xuyên có khách ra vào mua hàng, bên trong cửa hàng có gắn camera an ninh, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện

. Anh D1 và chị L thấy hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn và là bạn bè với nhau nên đã tin tưởng nhận bị cáo vào làm việc, phụ giúp việc nhà, lẽ ra bị cáo phải biết quản lý, bảo vệ tài sản của chủ nhà như tài sản của chính bản thân mình. Tuy nhiên, lợi dụng sự tin tưởng của anh D1 và chị L, cũng như sự sơ hở của bị hại trong việc mua bán hàng hóa (để tiền không người quản lý, trông giữ, tủ để tiền không khóa lại, không lập sổ sách mua bán hàng hóa trong ngày…), nên trong lúc bán hàng và thối tiền cho khách, bị cáo đã lén lút trong một ngày nhiều lần chiếm đoạt tiền của bị hại, trong khoảng thời gian dài từ tháng 04/2018 đến ngày 11/8/2018 với tổng số tiền là 250.000.000 đồng nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

phụ nữ, đã có con. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất, lo chi tiêu trong gia đình, làm tấm gương tốt để con cái noi theo. Thế nhưng do bản tính tham lam, xem thường pháp luật, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến ngày 11/8/2018, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tổng số tiền 250.000.000 đồng của anh D1 và chị L,

ành vi của bị cáo

đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

………………

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) …………………”

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật. B Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết

: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục thiệt hại cho bị hại xong, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, vì vậy cần áp dụng Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo. Đối với vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là chưa phù hợp với tính chấp mức độ hành vi phạm tội bị cáo nên không chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Phạm Tấn D1 và chị Võ Trần Thụy L trình bày: Trần Thị Mỹ P đã lấy trộm số tiền 400.000.000 đồng, tuy nhiên do không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, đồng thời tại phiên tòa anh D1, chị L cũng đồng ý số tiền bị cáo P chiếm đoạt là 250.000.000 đồng, anh D1, chị L đã nhận xong và không có yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không.

Đối với 01 USB ghi lại hình ảnh bị cáo Trần Thị Mỹ P thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản cần tiếp tục quản lý lưu hồ sợ vụ án.

Về án phí: B

Trần Thị Mỹ P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a Khoản 3 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ P phạm tội “

”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mỹ P mức án 07 năm tù (Bày năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quản lý 01 USB ghi lại hình ảnh bị cáo Trần Thị Mỹ P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để lưu hồ sợ vụ án.

Về án phí: Áp dụng

136

Trần Thị Mỹ P

200.000 đồng

.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Cỡ chữ