vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 17/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HU N T N B N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày: 17-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HU N T N B N – TỈNH T NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Quản Thị Vân Anh;

2. Bà Nguyễn Hồng Trang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện hu ện Tân iên, t nh Tâ Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979, tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Tổ X, ấp Y, thị trấn Z, huy n M, tỉnh Bến Tre; nghề nghi p: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Tấn P và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Lê Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2018 đến ngày 10/6/2018 chuyển sang tạm giam cho đến nay.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/HS-ST ngày 21/01/2002, Tòa án nhân dân huy n M, tỉnh Bến Tre áp dụng khoản 1 Điều 136, điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Thanh T 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2001, chấp hành xong ngày 31/8/2002, đã được xóa án tích.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông C (tên gọi khác D), sinh năm 1971;

Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huy n T, tỉnh Tây Ninh; “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1959;

Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huy n A, tỉnh Tây Ninh; “Vắng mặt”.

NỘ DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 31/5/2018, sau khi đánh bạc tại Casino thuộc Vương Quốc Campuchia thua hết tiền, Nguyễn Thanh T đi đến cửa khẩu Mộc Bài,huy n Aến Cầu, tỉnh Tây Ninh thuê ông C, sinh năm 1971, ngụ Ấp P, xã H, huy n T, tỉnh Tây Ninh chở về thị trấn A, huy n A, tỉnh Tây Ninh với giá 350.000 đồng. Ông C đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 70L1-350.86 chở T đi trên Quốc Lộ 22 hướng về huy n A. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, ông C chở T đến xã Trà Vong, huy n A, tỉnh Tây Ninh, ghé vào quán ăn của bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1959, ngụ ấp S, xã T, huy n A, tỉnh Tây Ninh để cho T ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, do trên người không còn đủ tiền để trả tiền xe ôm cho ông C nên T nảy sinh ý định cướp xe của ông C. T đi ra sau quán rửa mặt, nhìn thấy sợi dây dù (loại dây cột trâu bò) nên xin chị S với ý định dùng sợi dây này để làm công cụ phạm tội nhưng chị S không cho. T quay lại bàn ăn, nhìn thấy con dao Thái Lan dài 21,5cm (cán bằng nhựa, màu vàng, dài 10cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 11,5cm) đầu lưỡi hình vòng cung để ở bàn bên cạnh bàn ăn của T nên T nảy sinh ý định dùng con dao này để làm công cụ cướp tài sản. Khi tính tiền ăn, T đã lấy trộm con dao nêu trên bỏ vào túi quần rồi lên xe để ông C tiếp tục chở về thị trấn M. Đến thị trấn M, T đi n thoại cho chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1971, ngụ ấp T, xã A, huy n A, tỉnh Tây Ninh là chị cùng cha khác mẹ với Nguyễn Thanh T để mượn tiền và xin ở nhờ. Lúc này, ông C phát hi n trong túi quần của T có con dao nên kêu T vứt bỏ dao thì ông C mới chở T đi tiếp. T vứt con dao xuống mi ng cống thoát nước cặp Quốc lộ 22B, đối di n chợ M và kêu ông C chở về hướng xã A để tìm nhà chị K.

Khi đến ấp D, xã A, huy n A, tỉnh Tây Ninh, T kêu ông C rẽ vào quán nước của chị Lê Thị Đ, sinh năm 1977, ngụ ấp D, xã D để uống nước. T tiếp tục đi n thoại cho chị K để hỏi mượn tiền nhưng chị K nói không có tiền cho mượn nên T tiếp tục nảy sinh ý định cướp xe của ông C. T đi ra phía sau quán tìm được 01 đoạn dây đi n màu đen dài 1,07m nên lấy bỏ vào túi quần, tiếp tục quay ra ngồi uống nước với ý định đợi đến trời tối tìm chỗ vắng người để thực hi n hành vi cướp tài sản. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T kêu ông C chở đi về hướng ngã tư Cây Cầy để tìm nhà chị K nhưng thực chất với ý định tìm nơi vắng người để thực hi n hành vi cướp tài sản. Khi chạy đến đoạn đường đất đỏ bên phía tay trái hướng đi thì T kêu ông C rẽ vào. Chạy tới khu vực có vườn cao su hai bên đường, do đoạn đường khó đi và trời tối nên ông C nghi ngờ quay đầu xe chạy về hướng đường nhựa. Khi chạy được một đoạn thì Nguyễn Thanh T dùng sợi dây đi n mang theo choàng qua cổ ông C, dùng hai tay cầm hai đầu dây đi n giật mạnh về sau. Ông C thắng gấp làm cả hai ngã xuống đường. Ông C tri hô “Cướp, cướp” nhiều lần làm T hoảng sợ bỏ chạy vào trong vườn cao su. Sau đó ông C trình báo công an xã M. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh T bị bắt giữ.

* Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tình tiết khác:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thanh T thành khẩn khai báo, có cha ruột ông Nguyễn Tấn P là thương binh hạng 4/4; ông nội và hai chú ruột là li t sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc; bà nội được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Độc lập Hạng ba và truy tặng danh hi u “Bà mẹ Vi t Nam anh hùng, bị cáo tác động người nhà bồi thường thi t hại cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết khác:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/HS-ST ngày 21/01/2002, Tòa án nhân dân huy n M, tỉnh Bến Tre áp dụng khoản 1 Điều 136, điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Thanh T 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2001, chấp hành xong ngày 31/8/2002, đã được xóa án tích.

* Vi c thu giữ, tạm giữ tài li u, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 (Một) xe mô tô biển số 70L1-350.86, nhãn hi u HONDA, số máy HD12E5489966, số khung HC1217DY489817;

- 01 (Một) đi n thoại di động Nokia 225, màu xanh đen, số Imel: 357147068843422.

- 01 (Một) đi n thoại di động Nokia 216, màu xanh xám, số Imel: 357344085990753.

- 01 (Một) chai nước suối hi u TT, loại 500ml.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Tân Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 28/QĐ-CQCSĐT ngày 08/8/2018 trả cho ông C các tài sản nêu trên.

- 01 (Một) đôi giày màu nâu, mặt giày có ghi nhãn hi u Xuân, Đường B, Phường 2, thành phố Bến Tre.

- 01 (Một) đoạn dây đi n màu đen dài 1,07m.

- 01 (Một) đi n thoại di động hi u Telego, màu nâu, số Imel: 1869305021203934, bị mất nắp sau, không sử dụng được.

- 01 (Một) con dao dài 21,5 cm (cán bằng nhựa, màu vàng, dài 10cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng dài 11,5 cm).

Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận số 25/KL-HĐĐG ngày 06/6/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh kết luận:

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hi u Honda, loại Wave Anpha, biển số 70L1-350.86 có giá trị thị trường là: 15.000.000 đồng (Mười lăm tri u đồng).

- 01 (Một) đi n thoại di động Nokia 216 có giá trị thị trường là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- 01 (Một) đi n thoại di động Nokia 225 có giá trị thị trường là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

* Phần dân sự:

- Ông C, bà Nguyễn Thị Ngọc S không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường thi t hại, đồng thời bà S không yêu cầu nhận lại tài sản.

Tại n Cáo trạng s 4 /CT-VKS-KSĐT ngày 13 tháng n m 2 1 của Vi n i m sát nhân dân huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy t ị cáo Nguyễn Thanh T về tội Cướp tài s n theo quy ịnh tại i m d ho n 2 Điều 1 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài s n”. Do đó, Vi n kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị hại vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận ra sai lầm của bản thân mong Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ 30 ngày 31/5/2018, tại đoạn đường đất đỏ thuộc ấp A, xã T, huy n M, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thực hi n hành vi dùng sợi dây đi n xiết cổ ông C khi ông C đang điều khiển xe mô tô chở T ngồi phía sau nhằm chiếm đoạt tài sản của ông C là xe môtô nhãn hi u Honda, loại Wave Anpha, biển số 70L1-350.86, có giá trị thị trường là: 15.000.000 đồng (Mười lăm tri u đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Thanh T dùng sợi dây đi n xiết cổ ông C nhằm chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn nguy hiểm nên bị cáo Nguyễn Thanh T bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng…thủ đoạn nguy hiểm khác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 45/CT-VKS-KSĐT, ngày 13 tháng 9 năm 2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhân thân, năm 2002 bị cáo Nguyễn Thanh T đã bị Tòa án nhân dân huy n G, tỉnh Bến Tre xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, đến nay tuy đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghi m, tu dưỡng đạo đức mà có hành vi đánh bạc dẫn đến vi c bị cáo tiếp tục phạm tội, điều này cũng thể hi n thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều ki n cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi thực hi n hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thi t hại cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha là thương binh hạng 4/4, ông nội và hai chú ruột là li t sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, bà nội được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Độc lập Hạng ba và truy tặng danh hi u “Bà mẹ Vi t Nam anh hùng” đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

Đối với lời luận tội của Kiểm sát viên về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mà bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về phần trách nhi m dân sự: Ông C và bà Nguyễn Thị Ngọc S không yêu cầu bồi thường thi t hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (Một) đôi giày màu nâu, mặt giày có ghi nhãn hi u X, đường X, Phường 2, thành phố Bến Tre; 01 (Một) đoạn dây đi n màu đen dài 1,07m; 01 (Một) đi n thoại di động hi u Telego, màu nâu, số Imel: 1869305021203934, bị mất nắp sau, không sử dụng được. Các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) con dao dài 21,5 cm (cán bằng nhựa, màu vàng, dài 10cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng dài 11,5 cm) của bà Nguyễn Thị Ngọc S, bà S không yêu cầu nhận lại tài sản nên tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng khác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Tân Biên đã xử lý đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 31/5/2018.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy:

- (Một) đôi giày màu nâu, mặt giày có ghi nhãn hi u Xuân Hải, 1B Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phường 2, thành phố Bến Tre;

- 01 (Một) đoạn dây đi n màu đen dài 1,07m;

- 01 (Một) đi n thoại di động hi u Telego, màu nâu, số Imel: 1869305021203934, bị mất nắp sau, không sử dụng được;

- 01 (Một) con dao dài 21,5 cm (cán bằng nhựa, màu vàng, dài 10cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng dài 11,5 cm).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương.

Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ