vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Phùng Văn T; Nguyễn Bá D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tính từ ngày đi thi hành án. Trừ thời gian bị cáo bị tạm giam tại Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 13/02/2018 đến ngày 13/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K và đồng phạm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Phùng Văn T; Nguyễn Bá D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày 27-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ninh Ngọc Tú

Ông Nguyễn Quốc Trường

– Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ tên:

, sinh ngày 01/7/1987 tại

, huyện Y1,

: Thôn V, xã Y, huyện Y1,

: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

1

) và bà

, sinh năm 1957; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: Chưa có; bị bắt,

. Có mặt.

2. Họ tên:

, sinh ngày 03/9/1990 tại

, huyện Y1,

: Thôn V, xã Y, huyện Y1,

; nghề nghiệp: Th

: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

và bà

;

. Có mặt.

3. Họ tên:

; sinh ngày 26/8/1991 tại

, huyện Y1,

: Thôn V, xã Y, huyện Y1,

; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10

: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

1 và bà

; có vợ và 01 con; t

. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đỗ Thị C, sinh sinh 1989, nơi cư trú: Thôn V, xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1959, nơi cư trú: Thôn V, xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

thôn A,

, Công an hu

99A – 200.98 do

:

-

;

-

/

;

-

).

Công an

,

–

.

.

–

22,5 kg.

Tại

956/C54-P2 ngày 13/02/2018 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận:

.

12/02/2018,

, T v D

,

, sau khi ăn

Đ

Đ

K3

,

, do T

, san

, T

K

i Trung Q

, T i

K

1.070.00

.

Sau khi mua

, K

T

, K

36

), D

–

, T

, T

q

, T

-

a

thôn A,

ên quan.

:

- 01

, 03

36

, D

.

- 01

,

.

-

–

13/02/2018 K

.

Nh

:

- 02

,

.

- 01

B2 mang tên

.

, Văn T

.

–

13/02/2018 Văn K

áo l

.

ó

.

Cáo trạng số: 47/CT-VKSHL - HS, ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Phùng Văn T; Nguyễn Bá D về tội "Vận chuyển hàng cấm" theo điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm Sát Viên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm k, khoản 2, Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng điểm k khoản 2, Điều 191; các Điều 50; 58; 65 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Áp dụng điểm k, khoản 2, Điều 191; các Điều 50; 58; 65 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm.

Áp dụng điểm k, khoản 2, Điều 191; các Điều 38; 50; 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bá D từ 02 năm đến 03 năm tù.

* Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ thùng cát tông; 02 túi nilon màu đen đã nhàu nát;

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ được xác lập trong hồ. Như vậy có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 12/02/2018, Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 99A – 200.98 của gia đình K chở Nguyễn Bá D và Phùng Văn T, từ tỉnh Bắc Ninh lên xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn chơi. Sau đó cả ba người rủ nhau lên thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn chơi, khi đến nơi cả ba tiếp tục rủ nhau sang Trung Quốc mua pháo về đốt. T dẫn đường đưa K và D sang Trung Quốc mua 01 hộp pháo dàn loại 168 quả/ hộp; 02 hộp pháo dàn loại 100 quả/ hộp và 04 hộp pháo dàn loại 36 quả/ hộp hết 1.070.000đ. Sau đó về Việt Nam, đi về Bắc Ninh. Đến 02 giờ 30 phút ngày 13/02/2018 đến địa phận thôn A, xã S, huyện H bị Công An huyện Hữu Lũng bắt giữ tổng số pháo do K, D, T vận chuyển là 22,5 kg theo kết luận là thuốc pháo khi đốt ra tiến nổ. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Cáo trạng số 47/VHS–HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố đúng người đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Đã ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn K có bố đẻ Nguyễn Văn K1 đã tham gia chiến trường Miền Nam người có công với cách mạng và bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Nguyễn Bá T sau khi phạm tội ra đầu thú và bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước có xác nhận của chính quyền địa phương. Nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Văn K; Phùng Văn T khỏi xã hội. Ngoài ra, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Bá D có nhân thân xấu ngày 24/ 01/ 2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng hiện đang trong quá trình điều tra. Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo D.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ thùng cát tông; 02 túi nilon màu đen đã nhàu nát (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 6 năm 2018)

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Phùng Văn T; Nguyễn Bá D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Phùng Văn T; Nguyễn Bá D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt:

1. Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều Điều 38; Điều 50; 58 của Bộ Luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tính từ ngày đi thi hành án. Trừ thời gian bị cáo bị tạm giam tại Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 13/02/2018 đến ngày 13/4/2018.

2. Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 58; 65 của Bộ Luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn tính từ ngày xét xử sơ thẩm, ngày 27 tháng 6 năm 2018. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo.

3. Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điều 50, 58; 65 của Bộ Luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn tính từ ngày xét xử sơ thẩm, ngày 27 tháng 6 năm 2018. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y1, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ thùng cát tông; 02 túi nilon màu đen đã nhàu nát (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 6 năm 2018).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn K; Nguyễn Bá D; Phùng Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ