vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 01/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST.
Ngày: 01-6-2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Thụ

Bà Phạm Thị Thùy Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên.

Từ ngày 25/5/2018 đến ngày 01/6/2018, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2018/TLST-HS ngày 20/04/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HS ngày 14/5/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Q; sinh năm 1994; tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thái H - sinh năm 1954 và bà Đậu Thị M- sinh năm 1955; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/01/2018, đến ngày 11/01/2018 chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea H'leo. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại:

Anh Nguyễn Trường G - sinh năm 1996; trú tại: Buôn H 1, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Ngƣời tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Chị Dương Thị Mộng H, sinh năm 1994; trú tại: Thôn B, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Chị Phan Thị Thu S - sinh năm 1994; trú tại: Thôn C, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Anh Huỳnh Quốc C - sinh năm 1994. Trú tại: Thôn D, xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.Vắng mặt.

Anh Đinh Thanh H - sinh năm 1993. Trú tại: Thôn T, xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.Vắng mặt.

Ông Mai Anh D - sinh năm 1980. Trú tại: Buôn H 2, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 04/01/2018, sau khi dự đám cưới tại xã H, huyện E thì Trần Văn Q cùng với Huỳnh Quốc C, sinh năm 1994, trú tại Thôn D, xã S, huyện E; Đinh Thanh H, sinh năm 1993, trú tại Thôn T, xã S, huyện E; Dương Thị Mộng H, sinh năm 1994, trú tại thôn 4, xã H, huyện E; Phan Thị Thu S, sinh năm 1994, trú tại Thôn C, xã H, huyện E; Nguyễn Trường G, sinh năm 1996, trú tại Buôn H 1, xã H, huyện E và một số người khác đi đến quán Karaoke của ông Mai Anh D, ở Buôn H 2, xã H, huyện E để hát Karaoke và uống bia. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Q, H, C không hát Karaoke nữa mà xin phép đi về nhưng G không cho nên giữa G và Quyết xảy ra tranh cãi với nhau. Sau đó, G dùng tay đánh về phía mặt của Q nhưng Q dùng tay đỡ được, G tiếp tục dùng chân đạp 01 cái trúng vào bụng của Q. Thấy vậy, C, H và một số người khác can ngăn nên G không đánh Q nữa. Sau đó, Q đi ra ngoài sân nơi dựng xe mô tô mở yên xe lấy 01 con dao có cán bằng nhựa màu vàng (loại dao Thái Lan), dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 10cm, rộng khoảng 1,5cm, có mũi nhọn bỏ vào túi quần, với mục đích nếu G đánh nữa thì Q sẽ dùng dao đâm G. Khi Q đang đứng tại nơi dựng xe mô tô, lúc này C và H đi đến thì G cũng đi theo và dùng tay đánh Q nhưng không trúng và được C, H can ngăn thì G không đánh nữa. Khi Q, H, C lấy xe mô tô để chuẩn bị đi về G đi đến dùng chân đạp 01 cái trúng vào bụng của Q, làm Q bị ngã xuống đất. Lúc này, Q đứng dậy và lấy con dao từ trong túi quần, đâm một nhát vào vùng bụng của G, rồi rút dao ra tiếp tục đâm vào vùng vai của G 01 nhát. Sau đó Q cầm theo con dao rồi cùng H, C đi về nhà của mình tại Thôn A, xã S, huyện E, còn G được mọi người đưa đi cấp cứu. Khi về đến nhà, Q để con dao trên nóc tủ lạnh của gia đình nhưng sau đó không tìm thấy.

Tại Bệnh án sao trích lục số 86/BAS-BVTH ngày 02/02/2018, của Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh, tỉnh Đắk Lắk, xác định: Nguyễn Trường G bị vết thương thấu bụng thủng 03 lỗ hổng tràng và 02 lỗ đại tràng ngang, đứt tĩnh mạch thận trái, vết thương đứt cơ dưới gai vai trái.

Tại bản kết luận pháp y thương tích số: 133 ngày 05/01/2018, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tỷ lệ phần trăm thương tích của Nguyễn Trường G là 61%, vật tác động: Sắc, nhọn.

Tại bản kết luận pháp y bổ sung số: 334 ngày 09/3/2018, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tỷ lệ phần trăm thương tích của Nguyễn Trường G là 66%, vật tác động: Sắc, nhọn.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, Nguyễn Trường G yêu cầu Trần Văn Q bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Trường G số tiền 55.000.000 đồng và G đồng ý với số tiền này nên đã tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Văn Q.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành truy tìm con dao Trần Văn Q đã sử dụng để đâm G nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 45/KSĐT-HS, ngày 19/4/2018 truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 và điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng thêm điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 5 năm đến 6 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Cần chấp nhận việc Trần Văn Q và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ tiền điều trị thương tích và các khoản chi phí khác cho người bị hại Nguyễn Trường G.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã biết được hành vi của mình là sai trái. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Khoảng 15 giờ ngày 04/01/2018, Trần Văn Q đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm Nguyễn Trường G gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 66%.

Xét thấy, lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

Nhận thấy, con dao mà bị cáo dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Trường G là vật sắc, nhọn, có tính sát thương cao, thuộc loại hung khí nguy hiểm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 66%. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại điểm a khoản 1 và điểm d, khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm a khoản 1, điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a, ...Dùng hung khí nguy hiểm...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 đến 14 năm:

......

d, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

. Tình tiết giảm nhẹ:

Sau khi phạ m tộ i bị cá o đã thà nh khẩ n khai bá o , ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và người bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, hành vi của bị cáo xuất phát từ lỗi của người bị hại. Do bị cáo bị anh anh Nguyễn Trường G, chửi bới, đánh và đạp vào bụng nhiều lần nên bị cáo mới dùng dao đâm anh Nguyễn Trường G. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm e, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi Nguyễn Trường G dùng tay, chân đánh bị cáo Trần Văn Q, Công an huyện Ea H'leo đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trường G. Bị cáo không có yêu cầu gì về việc này nên không đề cập xem xét, giải quyết.

. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E đã xác minh truy tìm vật chứng, nhưng không thu giữ được, nên không có căn cứ để xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự: Cần chấp nhận việc Trần Văn Q và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ tiền điều trị thương tích và các khoản chi phí khác cho anh Nguyễn Trường G. Anh Nguyễn Trường G không yêu cầu bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

. Về án phí: Cần buộc bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾ T ĐỊ NH:

- Căn cứ vào khoản 1 và điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố : Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ vào khoản 1 và điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 5 (năm) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 04/01/2018.

Các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự, chấp nhận Trần Văn Q và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ tiền điều trị thương tích và các khoản chi phí khác cho anh Nguyễn Trường G.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ