vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn A phạm tội: “Vận Chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 08/4/2018. Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn A - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn A phạm tội: “Vận Chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày 18 - 6 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Thế Khuynh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Văn Hợp.

Bà Vy Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phấn – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Hà Văn A sinh ngày 25 tháng 5 năm 1980 tại xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Hà Văn B và bà: La Thị M; có vợ: Nguyễn Minh N và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ, tạm giam tại Công an huyện Chi Lăng từ ngày 08/4/2018 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Minh U, sinh năm 1986; nơi thường trú: Số X, ngõ Y, đường T, phường L, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 20 phút ngày 08/4/2018, tại km 36 quốc lộ 1A thuộc thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Chi Lăng phối hợp với Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông - Phòng PC67 Công an tỉnh Lạng Sơn dừng xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90 do Hà Văn A điều khiển lưu thông hướng Lạng Sơn - Hà Nội, kiểm tra phát hiện trên xe có 18 vật hình hộp loại 36 quả/hộp được đựng trong chiếc túi vải bạt nhiều màu sắc bên ngoài được lồng bằng bao tải dứa màu xanh và 18 vật hình hộp loại 36 quả/hộp được đựng trong 01 bao tải dứa màu xanh, tổng trọng lượng là 53kg. Công an huyện Chi Lăng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90.

Tại bản Kết luận giám định số 1941/C54-P2 ngày 09/4/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Hà Văn A) gửi giám định bên trong đều có chứa thuốc pháo, khi bị tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hóa, điện có gây tiếng nổ.

Tại Cơ quan điều tra Hà Văn A khai nhận: A thường xuyên sinh sống, làm thuê (thợ xây) tại thành phố S (quê vợ). Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2018 A ngồi uống nước ở quán vỉa hè chợ Q, thành phố S thì gặp một người đàn ông tên V (không biết họ, địa chỉ cụ thể). V nói với A là V có pháo giàn loại 36 quả/giàn mua về sử dụng tết nhưng chưa sử dụng hết nên muốn bán, thấy V nói vậy nên A nẩy sinh ý định mua pháo mang về nhà ở huyện H, tỉnh Bắc Giang để sử dụng trong các dịp lễ, tết. A bảo V bán cho A 4 đến 5 giàn, nhưng V bảo V còn 36 giàn nếu mua hết sẽ bán rẻ chỉ lấy 2.700.000đ, A đồng ý. Sau đó V và A hẹn nhau khoảng 14 giờ ngày 08/4/2018 sẽ giao dịch mua, bán pháo tại chân cầu I, thành phố S. Đến 14 giờ ngày 08/4/2018 A mượn xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90 của Nguyễn Minh U (em vợ của A) và đi ra điểm hẹn gặp V, khi ra đến nơi A thấy V đang đứng cạnh 01 chiếc xe môtô (A không để ý loại xe và biển số xe) trên xe có chở hai bao tải dứa màu xanh,V nói với A bên trong là pháo, A xem thấy đúng là pháo giàn loại 36 quả/giàn nên đã trả 2.700.000đ cho V, rồi V bê hai bao pháo sang buộc vào xe cho A. Sau đó A điều khiển xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90 đi theo quốc lộ 1A về Bắc Giang, khi đến km 36 quốc lộ 1A thuộc thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Chi Lăng phối hợp với Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông – Phòng PC67 Công an tỉnh Lạng Sơn phát hiện thu giữ toàn bộ tang vật.

Ngày 10/4/2018 Công an huyện Chi Lăng đã tiêu hủy toàn bộ số pháo còn lại sau giám định.

Đối với người đàn ông tên V đã bán pháo cho A ở thành phố S. Do không có thông tin cụ thể nên không thể tiến hành điều tra, xác minh.

Đối với Nguyễn Minh U là người cho A mượn xe, nhưng U không biết mục đích của A là dùng xe đi vận chuyển pháo, nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90, Nguyễn Minh U mua xe cũ ở hiệu cầm đồ, không làm giấy tờ mua bán, giấy đăng ký xe đã mất. Qua tra cứu xác định chủ đăng ký sở hữu chiếc xe trên là Chu Văn E, trú tại thôn J, xã K, thành phố S. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và xác định Chu Văn E cùng gia đình đã không có mặt ở thành phố S từ tháng 9/2017 không biết đi đâu, làm gì, nên chưa có cơ sở để giải quyết. Do vậy Cơ quan điều tra tách ra khỏi vụ án và tiếp tục tạm giữ xe môtô để điều tra xử lý sau khi có căn cứ.

Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng đã truy tố bị cáo Hà Văn A về tội Vận chuyển hàng cấm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn A đã khai nhận hành vi mua pháo nổ để sử dụng và toàn bộ nội dung vụ án.

Kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên trình bày bản luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hà Văn A theo tội danh và điều luật như trên. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Hà Văn A phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đếu 03 năm tù. Về phạt bổ sung đề nghị không áp dụng. Về vật chứng: Đề nghị ghi nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra.

Bị cáo Hà Văn A không có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận việc xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Chi Lăng lập ngày 08/4/2018, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ. Các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi, có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 17 giờ 20 phút ngày 08/4/2018, tại km 36 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn Công an huyện Chi Lăng đã phát hiện Hà Văn A có hành vi vận chuyển 53 kg pháo nổ (loại 36 quả/giàn) trên xe mô tô biển kiểm soát 12P1-063.90, nguồn gốc số pháo trên là do Hà Văn A mua ở Lạng Sơn vận chuyển về Bắc Giang để sử dụng.

Bị cáo Hà Văn A là người có năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy có đủ khả năng để nhận thức việc vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích có pháo để sử dụng (đốt trong dịp lễ tết) bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua pháo ở thành phố S và vận chuyển pháo nổ với số lượng rất lớn (53 kg). Bị cáo đã vi phạm các quy định như: Chỉ thị 406/CT-TTg ngày 08/8/1994 của Thủ tướng chính phủ về việc cấm vận chuyển, buôn bán và đốt pháo. Nghị quyết số 05/CP ngày 11/10/1997 của Chính phủ về việc cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo, Nghị định số 36/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý, sử dụng pháo. Hà Văn A đã phạm vào điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vậy đã có đủ các căn cứ để kết luận bị cáo Hà Văn A phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật: Cấm vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo, bị cáo biết nhưng vẫn vi phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hà Văn A.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo nhất thời, bột phát nảy sinh ý định mua pháo nổ đem về đốt; về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng: Không có; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà Hà Văn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, tu dưỡng, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.

Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy rằng bị cáo Hà Văn A có 01 tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt nhưng hành vi phạm tội là nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm, răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời tăng cường giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nhằm mục đích kiến lời, bị cáo không có tài sản riêng thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã tiến hành tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ thu giữ của bị cáo và Cơ quan điều tra tách việc xử lý chiếc xe môtô biển kiểm soát 12P1-063.90 ra khỏi vụ án và tiếp tục tạm giữ xe môtô để điều tra xử lý sau, là có căn cứ và đúng pháp luật nên được ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn A phạm tội: “Vận Chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 08/4/2018.

Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

ơ

Cỡ chữ