vanban.org

Bản án 46/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung tên là Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006. Hiện nay con chung đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung tên là Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006 cho chị Lê Thị Hồng H trông nom,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Hồng H khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn T."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
--------------
Bản án số: 46/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19-11-2018
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Sơn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Bình

2. Ông Nguyễn Ngọc Anh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Số nhà 53, Tổ 4, Ấp S, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: Số nhà 53, Tổ 4, Ấp S, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H có mặt, anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai khác có tại hồ sơ và phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54 quyển số 01 cấp ngày 10/5/2001. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không chăm lo cho gia đình để mặc chị phải lo một mình mà còn thường xuyên kiếm chuyện chửi chị và anh chị đã ly thân nhau từ năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên là Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006. Hiện nay 02 con chung đang sống chung với chị. Nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu T đã trưởng thành do cháu tự quyết định về nơi ở của cháu. Hiện nay chị đang làm công nhân thu nhập khoản 15.000.000 đồng/tháng, có nhà ở ổn định. Có đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn không có lời khai.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định là đúng và đầy đủ;

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền;

+ Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định;

+ Về thu thập chứng cứ: Tòa án thu thập chứng cứ đầu đủ và đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn: Chấp hành và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt gây khó khăn cho công tác xét xử.

- Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T đã có mâu thuẫn trầm trọng, chị H không còn tình cảm với anh T. Đề nghị cho chị H được ly hôn với anh T. Về quan hệ con chung: Chị H anh T có 02 con chung tên Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006. Hiện nay con chung đang sống với chị H. Đề nghị giao cháu T1 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu T đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

- Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con; tài sản chung, nợ chung: Nguên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T.

- Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn chị Lê Thị Hồng H có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Số nhà 53, Tổ 4, Ấp S, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định chị Lê Thị Hồng H là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T là bị đơn; quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

2. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân xét thấy: Chị Lê Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau năm 2001 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54 quyền số 01 cấp ngày 10/5/2001 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị H, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không chăm lo cho gia đình để mặc chị phải lo một mình mà còn thường xuyên kiếm chuyện chửi chị. Đến năm 2015 anh chị đã ly thân nhau cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không được.

Còn đối với anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn không có lời khai.

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C: Trong quá trình chung sống, chị H và anh T có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân có sự bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã, xung đột nhau. Càng về sau mâu thuẫn càng trầm trọng dẫn đến vợ chồng ly thân cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T chưa được chính quyền địa phương hòa giải. Nay chị H xin ly hôn với anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Từ những chứng cứ trên, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T là có thật và đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H. Chị Lê Thị Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Theo chị H và kết quả xác minh, chị H và anh T có 02 con chung tên là Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006. Hiện nay 02 con chung đang sống chung với chị H. Ý kiến của chị H nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu T đã trưởng thành do cháu tự quyết định về nơi ở của cháu. Hiện nay chị đang làm công nhân thu nhập khoản 15.000.000 đồng/tháng, có nhà ở ổn định, có đủ điều kiện nuôi con. Còn anh T không có ý kiến về vấn đề này. Từ trước đến nay con chung sống với chị H vẫn phát triển bình thường về tâm thần lẫn thể chất. Chị H có nghề nghiệp, nhà ở ổn định, có thu nhập, có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh T không có trách nhiệm với gia đình, con cái. Ý kiến của cháu T1 cũng mong muốn được ở với chị H nếu ba mẹ ly hôn.

Do đó, giao con chung là cháu Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 đã trưởng thành nên không xem xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tiểu mục 1.1, mục 1, chương I, phần A của Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 004762 ngày 08/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 48, 68, 147, 220, 266, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 85, 87, 88, 89, 91 và Điều 92 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, và 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tiểu mục 1.1, mục 1, chương I, phần A của Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung tên là Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006. Hiện nay con chung đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.

Giao con chung tên là Nguyễn Lê T1, sinh ngày 21/11/2006 cho chị Lê Thị Hồng H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 03/11/1999 đã trưởng thành nên không xem xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tiểu mục 1.1, mục 1, chương I, phần A của Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Lê Thị Hồng H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 004762 ngày 08/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hồng H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ