- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHUNG LONG"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim P: Bà Nguyễn Thị Kim P được ly hôn với ông Phan Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HNGĐ-ST Ngày 28-8-2018 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trần Thị Bạch Tuyết;
+ Ông Trần Văn Tảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 8 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1967; cư trú tại: Tổ 4, ấp T, xã Tân Bình, huyện B, tỉnh N, “Vắng mặt”.
- Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1965; cư trú tại: Tổ 4, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh N, “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:
Về hôn nhân: Bà Pvà ông Phan Văn L chung sống vợ chồng từ năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh N, do tự nguyện. Hôn nhân là tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu bình thường, đến năm 1996 phát sinh mâu thuẫn do ông L thường xuyên đi nhậu về quậy phá và đánh đập. Bà đã báo chính quyền địa phương nhiều lần nhưng ông L vẫn không thay đổi. Nay không thể tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà P và ông L có hai con chung tên Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 15/8/1992 và Phan Quốc B, sinh ngày 01/12/1995. Các con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 09/8/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Phan Văn L trình bày: Ông thống nhất với bà P về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn. Theo ông cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, ông thi thoảng cũng có đi nhậu về rồi đánh bà P vài bạt tai, nhưng ông đã năn nỉ và xin lỗi. Ông không thường xuyên uống rượu và đánh đập bà P. Nay bà P yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Bà P, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XIV):
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P với ông Phan Văn L; về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết; về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về án phí: Bà Phụng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về việc vắng mặt đương sự:
Do bà P và ông L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Phụng, ông Long.
Về hôn nhân:
Bà P và ông L chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh N vào ngày 14/6/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà P yêu cầu ly hôn, ông Long không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà P và ông L chung sống vợ chồng từ năm 1990, tuy nhiên quá trình chung sống ông L thường xuyên đi nhậu, có hành vi bạo hành, đánh đập bà P gây thương tích nhiều lần. Do đó mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P, bà P được ly hôn với ông Long là phù hợp với khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà P và ông L có hai con chung tên Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 15/8/1992 và Phan Quốc B, sinh ngày 01/12/1995. Các con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Bà P và ông L thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân) theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XIV).
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XIV):
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim P: Bà Nguyễn Thị Kim P được ly hôn với ông Phan Văn L.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim P và ông Phan Văn L có hai con chung tên Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 15/8/1992 và Phan Quốc B, sinh ngày 01/12/1995. Các con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim P và ông Phan Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do bà Nguyễn Thị Kim P đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005317 ngày 31 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Kim P đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Phan Văn L biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại Uỷ ban nhân xã Tân Bình huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
| Nơi nhận: - Phòng KTrNV-THA, TANDTTN; - VKS huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - UBND xã Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (hh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Oanh |