- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Th Th V với bị đơn ông Lê Th H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HNGĐ-ST Ngày: 7/11/2018 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Minh Linh
2. Bà Trần Thị Huệ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thụy Anh Đào – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Ninh Hải - tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Hiệu – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 149/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2018/QĐHPT-HNGĐ ngày 26/10/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Th Th V, sinh năm: 1979 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Th H, sinh năm: 1972 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn A X 3, xã X H, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong Đơn khởi kiện (xin ly hôn) ngày 08/6/2018 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đinh Th Th V trình bày: Bà và ông Lê Th H tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Hải vào năm 2005. Vợ chồng có 02 con chung là Lê Ho V Kh, sinh năm: 2005 và Lê H Th U, sinh năm: 2010. Hiện nay cháu Kh, cháu U đang sống chung tại nhà cha mẹ ruột của bà. Trong quá trình chung sống, ông H không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu, chơi đá gà và về nhà đánh đập vợ con nhiều lần. Do quá sức chịu đựng của bản thân, bà đưa 02 con về nhà cha mẹ ruột tại An Hòa sinh sống nhưng ông H vẫn tìm đến đánh đập bà và đánh luôn cha ruột của bà. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông H.
Về con chung: 02 con chung hiện đang sống với bà nên bà đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Th H đều vắng mặt nên không thể hiện được ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì. Riêng bị đơn không chấp hành đúng theo quy định nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, đồng thời giao 02 con chung cho bà V nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Các đương sự phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Đinh Th Th V yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Th H và đồng ý nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương sự đều có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ninh Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông H nhưng ông H cố ý vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn (BL 09) cấp ngày 19/01/2005 của Ủy ban nhân dân xã Xuân Hải, HĐXX xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Th Th V và ông Lê Th H là hôn nhân hợp pháp vì hai người đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Theo đơn khởi kiện ngày 29/8/2018 (BL 10), Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2018 (BL 32) bà Vân cho rằng ông H không lo làm ăn, chơi đá gà, nhiều lần dùng vũ lực đánh đập bà vô cớ, bà chịu không nổi phải trở về nhà cha mẹ ruột để sống nhưng ông H vẫn tìm tới đánh bà, cha bà can ngăn cũng bị ông H đánh bị thương. Hiện nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H.
HĐXX xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, các Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2018 của bà V ngày 26/8/2018 (BL 32), biên bản lấy lời khai của ông Đinh K là cha ruột bà V ngày 12/9/2018 (BL 35) và Biên bản xác minh ngày 07/9/2018 của trưởng thôn A X 3 (BL 36) thể hiện: Ông H là chồng nhưng không lo làm ăn, chăm sóc vợ con mà chỉ lo ăn nhậu, chơi đá gà. Khi nhậu về còn giở thói vũ phu đánh đập vợ con, khi vợ con về nhà cha mẹ ruột ở vẫn tìm đến để đánh vợ và đánh luôn cha vợ. HĐXX thấy lý do dẫn đến tình trạng hôn nhân xấu nghiêm trọng như vậy là lỗi hoàn toàn do ông H. Bà V không chịu đựng được nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà V và ông H đã mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Đinh Th Th V.
Về con chung: Theo ý kiến của 02 con chung đều có nguyện vọng muốn sống chung với bà V. Hiện nay 02 cháu đang sống chung với bà Vân nên HĐXX giao cho bà Vân tiếp tục nuôi dưỡng Lê H V Kh, sinh năm: 2005 và Lê H T U, sinh năm: 2010, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Đinh Th Th V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Th Th V với bị đơn ông Lê Th H.
1. Về hôn nhân: Bà Đinh Th Th V được ly hôn với ông Lê Th H.
2. Về con chung: Giao 02 cháu Lê H V Kh, sinh năm: 2005 và Lê H Th U, sinh năm: 2010 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0015696 ngày 18/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Bà V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Minh Phấn
Trần Thị Huệ
Ngô Minh Đăng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án Tỉnh; - VKS Tỉnh, Huyện; - Chi cục THADS Huyện; - Các đương sự; - Lưu (hồ sơ, án văn). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Minh Đăng |