- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận chị Nguyễn Thị Minh T và anh Trần Thanh L thuận tình ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật hôn nhân và gia Về hôn nhân; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/ HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2018 V/v Ly hôn, nuôi con . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đặng Văn Hai
Ông: Nguyễn Phát Triển
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2018/TLST-HNGĐ, ngày 10/4/2018 “V/v tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1987
Địa chỉ: 59E, Khóm 3, Phường 3, TP Đ, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
- Bị đơn: Trần Thanh L, sinh năm 1987
Địa chỉ: 248/3, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh L là: Luật sư Phạm Văn K - Văn Phòng Luật sư Phạm Văn K, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự có mặt đầy đủ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26/3/2018, văn bản trình bày ý kiến ngày 12/6/2018 tại phiên hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Minh T trình bày:
Trước khi kết hôn chị T và anh L có tìm hiểu nhau khoảng 01 năm, tổ chức đám cưới vào tháng 9/2012 và có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường 3, TP Đ, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh L ghen tuông vô cớ, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ. Chị T và anh L đã sống ly thân từ tháng 3/2018 đến nay. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với chồng nữa không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết chị T được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Có 01 con Trần Thanh D, sinh ngày 18/10/2013. Hiện cháu Duy đang sống với anh Lành. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền nuôi con tên Trần Thanh D, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu D thì chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn Trần Thanh L trình bày:
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị Minh T là đúng, anh L thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Minh T. Trước khi kết hôn anh L và chị T có tìm hiểu nhau khoảng 01 năm, tổ chức đám cưới vào tháng 9/2012 và có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường 3, TP Đ, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị T có quan hệ đồng ý với người khác bên ngoài, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/ 2018 đến nay
Nay anh L đồng ý ly hôn với Nguyễn Thị Minh T.
Về con chung: Có 01 con Trần Thanh D, sinh ngày 18/10/2013. Hiện con đang sống với anh L. Khi ly hôn anh L yêu cầu được quyền nuôi con Trần Thanh D, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung tôi không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Thanh L là: Luật sư Phạm Văn K trình bày ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu Trần Thanh L được quyền nuôi cháu Trần Thanh D, sinh ngày 18/10/2013 sau khi ly hôn, anh L không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Nguyễn Thị Minh T và Trần Thanh L sống chung nhau như vợ chồng từ tháng 9/2012, đến ngày 18/10/2012 tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, thiếu sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau trong cuộc sống. Từ tháng 3/2018 chị T và anh L đã sống ly thân đến nay. Nay, anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể hàn gắn tiếp tục chung sống với nhau. Chị T yêu cầu ly hôn, anh L cũng đồng ý. Xét thấy việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L là có căn cứ.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Minh T và anh Trần Thanh L thống nhất có 01 con chung tên Trần Thanh D sinh ngày 18/10/2013. Hiện con đang sống với anh L, giữa chị T và anh L đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Tuy nhiên, việc giao cháu Thanh D cho ai nuôi dưỡng thì cần phải xem xét lợi ích về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét thấy, sau khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh L đã đưa con về chung sống nhà cha mẹ ruột của anh L ở tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, cháu Thanh D cũng đang học mầm non tại trường mẫu giáo H, xã H. Cháu Thanh D hiện đang sống ổn định với anh L, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Thanh D, nhằm giữ sự ổn định về tâm sinh lý cho cháu Thanh D. Căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần thiết giao cháu Thanh D cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
[3] Về cấp dưỡng: Đáng lý ra chị Nguyễn Thị Minh T không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng anh Trần Thanh L không yêu cầu Nguyễn Thị Minh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận chị Nguyễn Thị Minh T và anh Trần Thanh L thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: Anh Trần Thanh L được quyền nuôi con tên Trần Thanh D, sinh ngày 18/10/2013. Chị Nguyễn Thị Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Thanh L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thị Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001193, ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị Minh T đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/6/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện L; - CCTHADS huyện L; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 25/6/2018. Tháp. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ông HNGĐ, ngày 10/4/2018 “V/v tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con”, giữa: - - Nguyên đơn: Nguyễn Thị Minh Thư, sinh năm 1987 Địa chỉ: 59E, Khóm 3, Phường 3, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Trần Thanh Lành, sinh năm 1987 Tháp. - Văn Phòng Luật sư Phạm Văn Kết, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử: thuận tình ly hôn. Duy, sinh ngày 18/10/2013. Chị Nguyễn Thị Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con. chị Nguyễn Thị Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001193, ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị Minh T đã nộp xong). ngày tuyên án (07/3/2018). Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 25 tháng 6 năm 2018. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1/ 2/ | THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Út CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tại phòng nghị án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 96/2018/TLST- Địa chỉ: 248/3, ấp Long Hưng 1, xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh L là: Luật sư Phạm Văn Kết Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh I. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%. Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia Về hôn nhân: Công nhận chị Nguyễn Thị Minh T và anh Trần Thanh L II. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%. Về con chung: Anh Trần Thanh L được quyền nuôi con tên Trần Thanh Anh Trần Thanh L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở III. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%. 3. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Minh T phải chịu án Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng Nguyễn Văn Út |