vanban.org

Bản án 46/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Thái Thị T và Ông Trần Văn L"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2018
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Tôn Nám

Bà Ký Bé Lài

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thái Thị T, sinh năm 1981 (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1975.

Cùng trú tại: Ấp L, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngày 02 tháng 5 năm 2018 ông Trần Văn L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 5 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Thái Thị T trình bày: Bà và ông Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cự cãi nhau dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau vào năm 2008 đến nay. Bà xét thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Tân cho bà được ly hôn với ông Trần Văn L. Trong quá trình chung sống bà và ông L có một người con chung tên Trần Chí Th, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2005, con chung do ông L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà đồng ý giao con chung cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 02 tháng 5 năm 2018 bị đơn ông Trần Văn L trình bày: Vào năm 2004 ông và bà T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2008 đến nay. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Thái Thị T. Về con chung có một người con chung tên Trần Chí Th, con chung đang do ông trực tiếp nuôi dưỡng, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi người con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Thái Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Trần Văn L. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Văn L là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Văn L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị T và ông Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà T và ông L không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Thái Thị T và ông Trần Văn L.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông L có một người con chung tên Trần Chí Th, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2005, con chung do ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 02 tháng 5 năm 2018 ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bà T đồng ý giao con chung cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà T và ông L là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại tờ khai ngày 02 tháng 5 năm 2018 của Trần Chí Th nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà T và ông L, giao người con chung tên Trần Chí Th, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2005 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Ông L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà T và ông L không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T phải chịu 300.000đ, bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Thái Thị T và ông Trần Văn L.

- Về quyền nuôi con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của bà T và ông L, giao người con chung tên Trần Chí Th, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2005 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bà Thái Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0007042 ngày 02 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm , bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

--------------------------------------------------------------------------------------------

Cỡ chữ