vanban.org

Bản án 46/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 139, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 18 (mƣời tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2017. Về án phí: áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn H lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 139 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2017/HSST
Ngày 17/8/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

------------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh Thu - Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Tứ Kỳ và bà Phạm Thị Hợi - Phó Hiệu trƣởng trƣờng THCS Phan Bội Châu, huyện Tứ Kỳ.

- Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2017/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Đoàn Văn H, sinh ngày 18/6/1997; trú tại: thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/4/2017 tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1993; trú tại: thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

- Cháu Đoàn Văn Q, sinh ngày 31/12/2000; trú tại: thôn M, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

* Ngƣời đại diện hợp pháp cho cháu Q: anh Đoàn Ngọc P, sinh năm 1985; trú tại: thôn M, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (là chú cháu Q) (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; trú tại: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Việt A, sinh năm 1985; trú tại: thôn N1, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

- Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1969; trú tại: thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Đoàn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Do muốn có tiền chi tiêu nên Đoàn Văn H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác mang bán. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/4/2017 đến ngày 21/4/2017, H đã thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhƣ sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 05/4/2017, Đoàn Văn H gặp anh Nguyễn Văn S tại nhà anh Đoàn Văn S ở thôn Mỗ Đoạn, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. H thấy anh Nguyễn Văn S có chiếc xe máy Yamaha Exiter, màu xanh trắng, biển số 99F1-157.31 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh S để bán lấy tiền chi tiêu, H đã nói với anh S cho mƣợn xe máy để đi chơi, sáng hôm sau trả, anh S đồng ý. Sau khi mƣợn đƣợc xe máy của anh S, H đã đi đến một số hiệu cầm đồ để bán xe nhƣng không đƣợc giá. Đến ngày 09/4/2017, H đem xe máy của anh S đến hiệu cầm đồ Hùng Chiến ở cạnh đƣờng 391 thuộc thôn N1, xã T, huyện T, nói dối anh Nguyễn Việt A (chủ hiệu cầm đồ) là xe máy của mình và bán cho anh Việt A đƣợc 7.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Trƣa 21/4/2017, H đến quán điện tử “Mƣa Game” ở thôn B, xã K, huyện T để chơi điện tử thì gặp cháu Đoàn Văn Q cũng ở đó. H nhìn thấy điện thoại Iphone 5s màu trắng của cháu Q để trên bàn máy vi tính liền nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại này bán lấy tiền chi tiêu nên đã giả vờ hỏi mƣợn điện thoại của cháu Q để chơi điện tử, cháu Q đồng ý và đƣa điện thoại cho H. H lấy cớ quán điện tử không có sóng wifi nên nói với cháu Q cho cầm điện thoại sang quán bên cạnh có sóng wifi để tải trò chơi điện tử, cháu Q đồng ý. Sau khi cầm điện thoại ra ngoài, H không sang quán bên cạnh mà nhờ Phạm Văn B, sinh ngày 31/01/2000 (là ngƣời cùng thôn) chở về xã H Đạo, huyện T, rồi nhờ bạn là Nguyễn Thế Hùng, sinh năm 1999 ở thôn Mỗ Đoạn, xã K, huyện T đi mở khóa mật khẩu điện thoại của cháu Q. Sau đó, H đem điện thoại đến cửa hàng điện thoại Quang Thắng ở thôn N, xã Đ, huyện T, nói dối anh Nguyễn Văn T là điện thoại của mình và bán cho anh T đƣợc 2.000.000 đồng.

Số tiền bán xe máy và điện thoại, H đã chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-ĐGTS ngày 26/4/2017, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 5s 16GB màu trắng trị giá 3.100.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Exiter màu xanh trắng, BKS 99F1-157.31 trị giá 22.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo H chiếm đoạt là 25.600.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 38/VKS - HS ngày 30/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo H về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 139 của Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời bị hại là anh Nguyễn Văn S và cháu Đoàn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị, anh S và cháu Q đều khẳng định đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo H bồi thƣờng gì khác và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Việt A vắng mặt tại phiên tòa nhƣng anh Thắng và anh Việt Anh đều xác định bố bị cáo H là ông Đoàn Văn Hiếu đã trả lại các anh đầy đủ số tiền các anh đã đƣa cho bị cáo H nên không có ý kiến đề nghị gì.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; áp dụng khoản 1 Điều 139, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2017; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: không đặt ra giải quyết; Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệu thu đƣợc tại hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: tối 05/4/2017, tại nhà anh Đoàn Văn S ở thôn Mỗ Đoạn, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, Đoàn Văn H muốn chiếm đoạt xe máy Yamaha Exiter, màu xanh trắng, biển số 99F1-157.31 của anh Nguyễn Văn S để bán lấy tiền chi tiêu nên đã nói dối anh S cho mƣợn xe máy để đi chơi, sau khi anh S cho mƣợn xe, H đã đem bán lấy tiền. Trị giá chiếc xe máy H chiếm đoạt của anh S là 22.500.000 đồng.

Đến trƣa 21/4/2017, tại quán điện tử "Mƣa game" ở thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, do muốn chiếm đoạt điện thoại di động iphone 5s của cháu Đoàn Văn Q, bị cáo H lại nói dối cháu Q cho mƣợn điện thoại để sử dụng, sau khi cháu Q cho mƣợn điện thoại, H đã đem bán để lấy tiền. Trị giá chiếc điện thoại H chiếm đoạt của cháu Q là 3.100.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo H đã chiếm đoạt là 25.600.000 đồng (hai mươi năm triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Đoàn Văn H là ngƣời đã thành niên, nhận thức đƣợc hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vì muốn có tiền chi tiêu, không chịu lao động nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 25.600.000 đồng nên hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ trên là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hƣởng xấu về trật tự trị an trong địa bàn nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt nhƣng trong khoảng thời gian từ ngày 05/4/2017 đến ngày 21/4/2017, bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác, giá trị tài sản chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động đến bố đẻ là ông Đoàn Văn Hiếu để ông Hiếu trả lại tiền cho những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những ngƣời bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo H đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Vì bị cáo không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tứ Kỳ đã thu hồi những tài sản bị chiếm đoạt trả cho ngƣời bị hại. Bố đẻ của bị cáo là ông Đoàn Văn Hiếu cũng tự nguyện trả tiền cho anh Nguyễn Việt Anh và anh Nguyễn Văn Thắng. Không ai yêu cầu bị cáo bồi thƣờng khoản gì khác nên trách nhiệm dân sự trong vụ án này không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xe máy Yamaha Exiter, màu xanh trắng, biển số 99F1-157.31cùng điện thoại di động iphone 5s là vật chứng vụ án đã đƣợc thu hồi và trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nên việc xử lý vật chứng trong vụ án này không đặt ra giải quyết.

Anh Phạm Văn Bình và anh Nguyễn Thế Hùng (là ngƣời bị cáo H nhờ chở xe máy và đi mở khóa mật khẩu điện thoại lừa đảo đƣợc) không biết điện thoại H phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

Anh Nguyễn Việt Anh và anh Nguyễn Văn Thắng là ngƣời mua xe máy và điện thoại của H nhƣng không biết đó là những tài sản do H phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 139, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 18 (mƣời tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2017.

2. Về án phí: áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ