- Tranh chấp gì? án hình sự — "194.Tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đo…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thuận V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2017/HSST Ngày: 18/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP – TỈNH BÌNH PHƢỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
bà Trương Thị Việt Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đoàn Mạnh Quang
Ông: Lê Phương Ngọc
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Văn Hưng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại sân nhà văn hóa thôn 5, xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp tiến hành xét xử sơ thẩm, lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2017/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2017; đối với bị cáo:
NGUYỄN THUẬN V – sinh năm: 1980, tại: Đồng Tháp; giới tính: Nam; HKTT: thôn 5, xã T, huyện B, tỉnh BP; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị Diệp, sinh năm 1952; bị cáo có 03 (ba) anh chị em (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1983, bản thân bị cáo là con thứ 2 trong gia đình); bị cáo có vợ là Đào Thị Ngọc Loan và có 01 người con sinh năm 2009; tiền án: tại bản án số 24/2013/HSST ngày 22/3/2013, bị TAND quận 4, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02(hai) năm tù, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bù Đốp từ ngày 04/4/2017 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1950; địa chỉ: thôn 5, xã T, huyện B, tỉnh BP (có mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/4/2017, do có nhu cầu sử dụng ma túy, V điện thoại cho một người đàn ông tên Th (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy dạng tinh thể đá với giá 1.300.000(một triệu ba trăm nghìn) đồng, T1 đồng ý. V điều khiển xe mô tô màu trắng, hiệu Honđa, biển số 52U3-4488 đi từ nhà đến khu vực lô cao su, gần nhà máy lô cao su xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Tại đây, V đưa cho T1 1.300.000(một triệu ba trăm nghìn)đồng rồi T1 đưa cho V một ít ma túy để sử dụng trước. Sau khi sử dụng xong, V quay lại chỗ T1 và T1 nói với V là T1 đã để ma túy đá dưới tấm thảm lót xe của V rồi. Vẹn điều khiển xe mô tô đi về, trên đường về, đến khu vực UBND xã Tân Tiến thì bị Công an huyện B yêu cầu dừng xe kiểm tra, V điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì bị ngã, số Heroin rơi ra từ tấm thảm lót chân ở xe của V xuống đất, lực lượng chức năng đã giữ người cùng toàn bộ vật chứng của vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 189/2017/MT-PC54 ngày 07/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất bột gửi giám định có trọng lượng 2,5894gam, có heroin với hàm lượng là 55,11%, trọng lượng heroin là 1,6270gam.
Cáo trạng số 40/CTr-VKS ngày 30/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp truy tố bị cáo Nguyễn Thuận V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố và kết luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa, sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng cũng như giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tối bị cáo như trong nội dung bản cáo trạng; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 45; Điều 33 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 04(bốn) năm đến 05(năm) năm tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn T là chủ sỡ hữu chiếc xe mô tô màu trắng, hiệu Honđa, biển số 52U3-4488, khi V lấy xe đi thực hiện hành vi pham tội, ông toàn toàn không biết và hiện nay cơ quan CSĐT đã trả lại cho ông chiếc xe nói trên. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì thêm.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội của bị cáo và biên bản kiểm tra hành chính, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các chứng cứ khác được xét hỏi công khai tại phiên tòa; Hội đồng xét xử đã có đủ cở sở kết luận: Do muốn có ma túy để sử dụng khi đã bước chân vào con đường nghiện ma túy, khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/4/2017, V điều khiển xe mô tô màu trắng, hiệu Honđa, biển số 52U3-4488 đi từ nhà đến khu vực lô cao su xã Lộc Hiệp mua của một người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 1,6270g heroin với giá 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) đưa về nhà cất giấu để sử dụng dần. Trên đường về, đến khu vực UBND xã Tân Tiến thì bị lực lượng chức năng kiểm tra và tạm giữ người cùng toàn bộ vật chứng của vụ án.
Bị cáo biết rõ hành vi mua 1,6270g heroin mang về nhà cất giấu để sử dụng dần là vi phạm pháp luật nhưng để có ma túy để sử dụng khi đã bước chân vào con đường nghiện hút, bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, ma túy là một trong những tệ nạn mà Đảng và Nhà nước kiên quyết bài trừ, việc đấu tranh đối với các tội phạm về ma túy hiện nay đang là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; tệ nạn ma túy cũng là mầm mống làm nảy sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các hành vi tiêu cực như trộm cắp, cướp….. và nhiều hệ lụy xã hội khác làm ảnh hưởng đến kỷ cương phép nước và nếp sống văn minh của nhân loại. Mặc dù, bị cáo cũng nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người nhưng vì mục đích muốn có ma túy để sử dụng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Điều này chứng tỏ, bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Mặt khác, xét về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 22/7/2013, bị cáo đã bị TAND quận 4, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02(hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 22/5/2015 thì chấp hành xong. Sau khi về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân cai nghiện để tu chí làm ăn mà vẫn tiếp tục lao vào con đường nghiện hút và lại tiếp tục thực hiện tội phạm khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng hình phạt là “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần xử phạt bị cáo với mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung khi mà tình hình thanh thiếu niên sử dụng chất ma túy ngày càng nhiều trên địa bàn huyện B nói chung và xã Thiện Hưng nói riêng. Để đáp ứng theo tinh thần cải cách tư pháp cũng như hưởng ứng ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, việc Tòa án nhân dân huyện B đưa vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Thuận V ra xét xử lưu động công khai tại xã Thiện Hưng là cần thiết.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xét, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn; Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Xét, sự đề xuất của đại diện VKS về mức hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp; bỡi lẽ căn cứ vào tinh thần Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13…. Và chương các tội phạm liên quan đến ma túy, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thấp hơn sự đề xuất của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với người đàn ông tên T1 đã có hành vi bán ma túy cho V, quá trình điều tra, cơ quan CSĐT chưa xác định được nhân thân và lai lịch của T1 nên cơ quan CSĐT công an huyện B tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01(một) phong bì được niêm phong sau giám định có đóng dấu phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương là vật chứng của vụ án, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ là tài sản hợp pháp của bị cáo nhưng bị cáo đã sử dụng sử dụng vào việc liên lạc với T1 mua bán ma túy. Xét thấy, tài sản còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Honda, màu trắng, biển số 52U3-4488; SK: 129996; SM: 129955 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T (cha ruột của V), khi V sử dụng xe vào việc phạm tội ông T hoàn toàn không biết. Ngày 29/6/2017, cơ quan điều tra công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông; tại phiên tòa hôm nay, ông cũng không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét lại.
Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thuận V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 45; Điều 33 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thuận V 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 04/6/2017).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ.
Tuyên tịch thu tiêu 01(một) phong bì niêm phong có heroin sau giám định có đóng dấu của phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh BP; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã TH; - Bị cáo; - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (đã ký) Trƣơng Thị Việt Nga |