- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị N và anh T"
- Tòa quyết gì? * - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57,58, 81, 82,83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147, điều 227,điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa…
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN ---***--- Bản án số: 46/2017/HNGĐ-ST Ngày 07/08/2017 “ V/v: ly hôn giữa chị N và anh T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-------------------------------------
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thế Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1/ -ông Trần Xuân Hoà - Nguyên Chủ tịch MTTQ xã An Vỹ.
2/ - bà Đặng Thị Thêm - Nguyên Chủ tịch Hội phụ nữ xã Dạ Trạch.
thư ký phiên toà: - bà Nguyễn Thị Loan - Cán bộ Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: bà Lê Thị Chung – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 07/08/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2017/HNGĐ - ST Ngày 05/06/2017 về việc "Xin ly hôn" giữa:
*- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị N - Sinh năm 1984.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn H xã Đ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. (Có mặt tại phiên toà).
*- Bị đơn: anh Trần Ngọc T - Sinh năm 1983.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn H xã Đ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên.( Vắng mặt tại phiên toà).
*- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/- Cháu Trần Cụng M
- Sinh ngày 20/09/2006.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn H xã Đ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên ( Vắng mặt tại phiên toà).
2/- Cháu Trần Thị TT
- Sinh ngày 14/08/2007.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn H xã Đ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt tại phiên toà).
+ Người giám hộ cho cháu M và cháu TT là chị Đỗ Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/05/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị N chung sống với anh Trần Ngọc T từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 2003. Hai anh chị chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc bình thường được một thời gian thì nẩy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống và do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Từ giữa năm 2015 đến nay hai anh chị sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xin được ly hôn với anh T vì không có hạnh phúc.
Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Cháu Trần Cụng M (sinh ngày 20/09/2006) và Cháu Trần Thị TT ( sinh ngày 14/08/2007) hiện đang ở với chị N. Quan điểm của chị N là xin được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu việc đóng góp phí tổn nuôi con.
Về chia tài sản: Chị N không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.
Quá trình giải quyết xét xử vụ án thì anh T trốn tránh không đến Tòa án, không trình bày quan điểm, yêu cầu của mình.
Nguyện vọng của cháu Trần Công M và cháu Trần Thị TT là xin được tiếp tục ở với chị N trong trường hợp anh T và chị N ly hôn.
Mặc dù Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đã nhiều lần báo triệu tập đến tham gia giải quyết vụ án, đã hai lần Thông báo và báo triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Trần Ngọc T đều vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Nên vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt anh Trần Ngọc T theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị N vẫn giữ nguyên ý kiến và quan điểm trên đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà đã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật vì nhiều lần không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án. Đề nghị xử cho chị Đỗ Thị N được ly hôn với anh Trần Ngọc T; Giao cả hai con chung (Cháu Trần Cụng M và Cháu Trần Thị TT) cho chị Đỗ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc; Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra; Tài sản chung, công nợ chung và đất ruộng nông nghiệp 03 của anh Trần Ngọc T và chị Đỗ Thị N thì không đặt ra giải quyết trong vụ án ly hôn này; Nguyên đơn chị Đỗ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Việc anh Trần Ngọc T và chị Đỗ Thị N kết hôn có đăng ký là hoàn toàn hợp pháp đã xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, sống ly thân không quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống hạnh phúc gia đình đang ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần xử cho chị Đỗ Thị N được ly hôn với anh Trần Ngọc T để hai anh chị sớm ổn định tạo lập hạnh phúc gia đình mới.
Về con chung: Chị Đỗ Thị N và anh Trần Ngọc T có hai con chung hiện đang ở với chị N, cuộc sống ổn định và đảm bảo nuôi dưỡng giáo dục. Nguyện vọng của cháu Trần Công M và cháu Trần Thị TT đều là xin được ở với chị N. Mặt khác hiện anh T chưa có yêu cầu quan điểm về việc nuôi con. Nên cần giao cả hai cháu M và TT cho chị N tiếp tục nuôi. Do chị N không yêu cầu nên việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Trần Ngọc T được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Do chị Đỗ Thị N không yêu cầu phân chia và anh Trần Ngọc T chưa có ý kiến quan điểm nên Tòa án không đặt ra xem xét trong vụ án ly hôn này. Khi nào anh chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Cần đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đó nộp tại cơ quan Chi cục thi hành án.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57,58, 81, 82,83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147, điều 227,điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
*- Xử :
1. Về hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị N được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Công M (sinh ngày 20/09/2006) và cháu Trần Thị TT (sinh ngày 14/08/2007) cho chị Đỗ Thị N tiếp tục nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Trần Ngọc T được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét. Khi nào anh Trần Ngọc T, chị Đỗ Thị N có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Đỗ Thị N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm ( Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng dự phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0001908 ngày 05/06/2017 tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu nên việc nộp án phí đó xong).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị N (Có mặt tại phiên Tòa) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 07/8/2017. Anh Trần Ngọc T, Cháu Trần Cụng M và Cháu Trần Thị TT (vắng mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại địa phương nơi cư trú./
T/M: Hội đồng xét xử
Chủ toạ phiên toà
- Nơi nhận: + TAND tỉnh Hưng Yên + VKSND huyện Khoái Châu. + THADS huyện Khoái Châu. + Các đương sự, lưu Hồ sơ, VP.