vanban.org

Bản án 459/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn P.

Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ N. Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 25 tháng 6 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp cho anh Phạm Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ N không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 459/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 9 - 2020.
“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Sơn Hùng

2. Ông Nguyễn Ngọc Bờ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 49/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 153/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ 07, ấp Mỹ Thành, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1988, nơi cư trú: số 206, ấp Mỹ Thành, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 01 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị N kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Mỹ. Chung sống hạnh phúc một thời gian thì đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, mỗi lần vợ chồng cự cãi là chị N bỏ nhà đi cả tháng không chăm lo cho gia đình, con cái. Anh chị ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay vẫn không hàn gắn được, anh yêu cầu được ly hôn với chị N.

Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc C, sinh ngày 17/6/2008 và Phạm Thị Kim T, sinh ngày 04/01/2013 và anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng chị không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của chị.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hôi đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P. Giao con chung cho anh P nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: anh P khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị N, địa chỉ cư trú của chị N là tại ấp MT, xã MĐ, huyện CP, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mỹ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng chị vắng mặt không có lý do và anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P và chị N theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Anh P và chị N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên anh P yêu cầu được ly hôn với chị N.

Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N để chị thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn tuy nhiên cho đến nay chị N vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như chị tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.

Qua xác minh thì địa phương xác định chị N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Về tình trạng hôn nhân và mâu thuẫn cụ thể giữa vợ chồng anh chị như thế nào thì địa phương không rõ.

Anh chị là vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế anh chị đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay không còn qua lại thăm nom, chăm sóc nhau. Nay anh P yêu cầu ly hôn do mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống hôn nhân và từ chối hòa giải cũng như xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, phía chị N thì vắng mặt trong thời gian giải quyết vụ án, không có thể hiện thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của anh P. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của anh P với chị N là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc C, sinh ngày 17/6/2008 và Phạm Thị Kim T, sinh ngày 04/01/2013. Hiện con chung đang sống cùng anh P, khi ly hôn anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Thiết nghĩ để ổn định tâm lý cũng như cuộc sống sinh hoạt, học tập của hai cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của hai cháu do đó Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh P và các thành viên gia đình không được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh P trình bày không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn P.

- Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 25 tháng 6 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp cho anh Phạm Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ N không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc C, sinh ngày 17/6/2008 và Phạm Thị Kim T, sinh ngày 04/01/2013. Giao con chung cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh P và thành viên gia đình không được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh Phạm Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà anh P đã nộp theo biên lai thu số 0006180 ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

- Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ