- Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; đòi lại tài sản nguyên đơn Nguyễn Văn Liêm và bị đơn Lâm Văn H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Văn L; bà Lâm Th T2, ông L Phước T1;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ N TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 459/2019/DS-PT Ngày: 28-11-2019 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN DÂN TỈNH Đ N TH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguy n Th V Trinh
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt;
Bà Nguy n Th Vĩnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Mộng Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- i i n i n i m t nh n n t nh ồng Th p: Ông Nguy n Tấn Tài - iểm sát vi n tham gia phi n tòa.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2019/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Đòi lại tài sản ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/ DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 233A/2019/QĐ-PT ngày 31 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguy n Văn L, sinh năm 1960.
Đ a ch : ấp P, xã P, huyện H, Đồng Tháp.
Người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L có Bà Hồ Th Xuân H và Bà V Th T - Là luật sư của văn phòng Luật sư Xuân Hương, T2ộc Đoàn Luật sư t nh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Lâm Văn H1, sinh năm 1955 (chết).
Đ a ch : ấp P, xã P, huyện H, Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền lợi, nghĩa vụ của ông H1 là ông Lâm Văn H2, sinh năm 1958 (em ruột).
Đ a ch : ấp H, xã T, huyện C, t nh i n Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
l/ L Phước T1, sinh năm 1968;
2/ Lâm Th T2, sinh năm 1965;
Người đại diện theo ủy quyền ông L Phước T1 là bà Lâm Th T2, sinh năm 1965; Cùng đ a ch : ấp 1, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1, bà T2: Ông Mai T3 - là luật sư của Công ty TNHH MTV T và C Thuộc Đoàn luật sư t nh Đồng Tháp;
3/ Nguy n Th P, sinh năm 1949;
4/ Nguy n Văn C, sinh năm 1940;
5/ Nguy n Th Ngọc M, sinh năm 1986;
6/ Nguy n Văn Chiến E, sinh năm 1991;
7/ Nguy n Văn C, sinh năm 1986;
8/ Nguy n Văn V, sinh năm 1984;
Người đại diện theo ủy quyền ông C, bà M, ông Chiến E, ông C và ông V: Là bà Nguy n Th P, sinh năm 1949;
Cùng đ a ch : Ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
9/ Trần Th Bích Đ, sinh năm 1979;
10/ Võ Văn Đ1, sinh năm 1940;
11/ Hồ Th H2, sinh năm 1951;
12/ V Minh N, sinh năm 1982;
Người đại diện theo ủy quyền ông Đ1, bà H2 và ông N là: Bà Trần Th Bích Đ, sinh năm 1979.
Cùng đ a ch : Ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
13/ Nguy n Th T2, sinh năm 1966;
14/ V Văn M1, sinh năm 1962;
15/ V Th Thu H3, sinh năm 1983;
16/ V Văn L, sinh năm 1996;
Người đại diện theo ủy quyền ông M1, bà H3 và ông L là: Bà Nguy n Th T2, sinh năm 1966.
Cùng đ a ch : Ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
17/ Huỳnh Văn L1, sinh năm 1964;
18/ Nguy n Th X, sinh năm 1962;
19/ Huỳnh Th Mỹ T3, sinh năm 1993;
Người đại diện theo ủy quyền bà X và bà Mỹ T3 là ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1964;
Cùng đ a ch : Ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
20/ Phan Th T4, sinh năm 1968;
21/ Phan Văn N, sinh năm 1961;
22/ Lê Thành T5, sinh năm 1991.
Người đại diện theo ủy quyền ông Ne và ông T5 là: Bà Phan Th T4, sinh năm 1968.
Cùng đ a ch : Ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
23/ Ban tr sự Phật giáo Hòa Hảo xã A.
Đại diện theo pháp luật ông Nguy n Văn L2, sinh năm 1948- Trư ng ban.
Đ a ch : Ấp 3, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Nguy n Văn L là nguy n đơn; Ông L Phước T1, Bà Lâm Th T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan.
NỘI DUN VỤ N
1. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Trước đây cha, mẹ ông (ông Nguy n Văn D và bà Phạm Th G) có sinh được 03 người con gồm: Nguy n Văn L, Nguy n Th H4 và Nguy n Văn Ả (ông Ả chết vào năm 1977, không có vợ con). Lúc còn sống, cha mẹ ông có tạo được 6.347m2 đất, tọa lạc tại ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp. Cha Mẹ ông đều chết vào năm 1988. hi còn sống, cha ông có cho ông Bùi Văn C2 nhờ 1 phần diện T5 đất tr n, sau đó ông C2 tự đi k khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. hi biết được sự việc tr n, gia đình ông ủy quyền cho ch ông là bà Nguy n Th H4 đứng ra tranh chấp với ông C2, đến năm 1996 Ủy ban nhân dân huyện T giải quyết buộc ông C2 phải trả lại cho bà H4 diện T5 là 2.597m2. Sau đó bà H4 có cho một số người trong họ tộc sử dụng tạm tr n phần đất này để cất nhà như: Hộ bà Nguy n Th P, bà Dương Th Ử, ch Trần Th Bích Đ, bà Nguy n Th T2, ông Huỳnh Văn L1 và hộ bà Nguy n Th T4. Đến khoảng năm 1990, do những hộ mượn đất không ch u trả lại đất, theo y u cầu của gia đình ông n n xảy ra tranh chấp. Đến ngày 30/11/1996, Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết đ nh số: 131/QĐ-UB, giao cho bà Nguy n Th H4 được sử dụng toàn bộ phần đất có diện T5 2.597m2, Thuộc thửa số 1480, tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại ấp 2, xã A, huyện T. Từ đó đến nay, ông là người trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất tr n. Năm 2006 bà H4 b bệnh chết. H4 nay ông H1 cho rằng phần đất tr n là tài sản của ông với bà H4 và ông đã sang nhượng cho bà T2, ông không đồng ý.
Nay ông kh i kiện y u cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 phải giao trả lại phần đất tr n cho ông quản lý và sử dụng, vì ông là người thừa kế duy nhất phần di sản của bà H4.
Đối với việc sang nhượng đất giữa ông H1 và bà T2, ông yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng sang nhượng tr n vì phần đất tr n không phải của ông H1.
Đối với hộ ông L1 và bà P, đã được Ủy ban nhân dân huyện T giải quyết được sử dụng 1 phần trong diện T5 tr n, giữa ông với hộ ông L1 và hộ bà P sẽ tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không y u cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Đối với những hộ đang cất nhà như: Hộ bà Trần Th Bích Đ, bà Nguy n Th T2 và hộ bà Nguy n Th T4, ông sẽ thương lượng ri ng với những hộ này, không y u cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Đối với hộ bà Ử H4 nay đã di dời nhà ra khỏi phần đất tranh chấp n n ông không có ý kiến hay y u cầu gì.
Đối với các vật kiến trúc và cây tr n đất, ông không y u cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này mà ông và những hộ có tài sản sẽ thương lượng với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Đối với nhà giảng đạo có tr n đất, ông thống nhất giữ nguy n H4 trạng không y u cầu di dời, đập phá.
2. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1, ông Lâm Văn H2 trình bày: Ông là em ruột của ông H1, ông H1 H4 đã chết. Do ông H1 H4 nay không có vợ và không có con n n ông là người kế thừa quyền và nghĩa vụ duy nhất của ông H1. Việc ông H1 lúc còn sống có sang bán đất cho bà T2 thế nào ông không biết. H4 nay ông L kh i kiện y u cầu ông H1 giao trả lại phần diện T5 2.597m2, T2ộc thửa 1480, ông không có ý kiến hay y u cầu gì, vì ông không biết gì đối với phần đất tr n. Việc chuyển nhượng đất giữa ông H1 với bà T2 ông cũng không biết gì.
Tóm lại: Ông không có ý kiến hay y u cầu gì đối với phần đất trên và cũng không có ý kiến hay y u cầu gì đối với việc sang nhượng đất tr n.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Lâm Thị T2 (đồng thời cũng là người được ủy quyền của ông Lê Phước T1) trình bày: Vào ngày 26/7/2006 (trước khi bà H4 chết), vợ chồng bà có thỏa T2ận sang nhượng lại của vợ chồng bà H4 phần diện T5 2.597m2 đất, tọa lạc tại ấp 2, xã A, huyện T. Hai bên có làm giấy tay với nhau, có Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, t nh Đồng Tháp xác nhận vào giấy mua bán. Trước khi thỏa thuận sang nhượng, bà H4 có đưa cho vợ chồng bà xem quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996 của Ủy ban nhân dân huyện T, về việc giao cho bà H4 toàn quyền sử dụng phần diện T5 đất tr n, vì vậy vợ chồng bà mới đồng ý mua. Hai b n thỏa thuận sang nhượng phần đất tr n với giá 200.000.000đ, vợ chồng bà trả làm 02 lần, lần thứ nhất trả 100.000.000đ, khi làm giấy mua bán, trả tại nhà bà H4, do bà H4 và ông H1 cùng ký nhận, lần thứ hai trả 95.000.000đ (do ông H1, bà H4 giảm 5.000.000đ), cũng tại nhà bà H4, khi đưa tiền có cả vợ chồng ông H1. Sau khi bà giao tiền sang nhượng đất cho vợ chồng bà H4 xong, thì bà H4 đột ngột chết n n chưa làm thủ tục sang t n được và vợ chồng bà cũng chưa sử dụng phần đất trên.
Do H4 nay ông H1 và bà H4 đều đã chết, ông L là người thừa kế duy nhất của bà H4, bà y u cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải thực H4 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo giấy mua bán ngày 26/7/2006 diện T5 là 2.597m2, đất tọa lạc tại ấp 2, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp. Nếu ông L được hư ng toàn bộ tài sản phần đất của bà Nguy n Th H4 mà không ch u thực H4 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà, thì y u cầu ông Nguy n Văn L phải có trách nhiệm trả giá tr đất lại cho vợ chồng bà theo giá mà Hội đồng đ nh giá là 100.000đ/m2 x 2.597m2 = 260.000.000đồng và y u cầu tính lãi với lãi suất 1%/tháng x 260.000.000đ x 142 tháng (tính từ tháng 7/2006 đến tháng 4/2018) = 369.200.000đồng, tổng cộng là 629.200.000đ (Sáu trăm hai mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) và tiếp tục tính lãi đến khi giải quyết xong vụ kiện.
Tại phi n tòa sơ thẩm, bà T2 đổi 1 phần y u cầu của mình, ch y u cầu ông L phải làm thủ tục sang t n phần diện T5 đất mà bà H4 và ông H1 đã bán cho bà là 2.597m2, theo giấy mua bán ngày 26/7/2006, không y u cầu ông L trả lại giá tr đất và không y u cầu gì đối với người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H1.
Đối với những hộ đang cất nhà tr n đất gồm: Hộ ông L1, hộ bà P, hộ bà Trần Th Bích Đ, bà Nguy n Th T2 và hộ bà Nguy n Th T4, bà sẽ tự thương lượng ri ng với những hộ này, không y u cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Đối với hộ bà Ửng H4 nay đã di dời nhà ra khỏi phần đất tranh chấp n n bà không có ý kiến hay y u cầu gì.
Đối với các vật kiến trúc và cây tr n đất, bà không y u cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này mà bà và những hộ có tài sản sẽ thương lượng với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Đối với nhà giảng đạo có tr n đất, bà thống nhất giữ nguy n H4 trạng không di dời, đập phá.
- Bà Trần Thị Bích Đ (đồng thời cũng là người được ủy quyền của Võ Văn Đ1, Hồ Thị H2, Võ Minh N) trình bày: Việc tranh chấp đất giữa ông L với ông H1 và bà T2 như thế nào hoàn toàn không biết, đề ngh Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt, nếu sau này phần đất tr n thuộc về ai, bà sẽ tự thương lượng giải quyết với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ kh i kiện giải quyết bằng vụ kiện khác.
3.2 Bà Phan Thị T4 (đồng thời cũng là người được ủy quyền của Phan Văn ne, Lê Thành T5) trình bày: Việc tranh chấp đất giữa ông L với ông H1 và bà T2 như thế nào hoàn toàn không biết, đề ngh Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt, nếu sau này phần đất tr n thuộc về ai, bà sẽ tự thương lượng giải quyết với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ kh i kiện giải quyết bằng vụ kiện khác.
3.3 Bà Nguyễn Thị T2 (đồng thời cũng là người được ủy quyền của Võ Văn M1, Võ Thị T2 H3, Võ Văn L) trình bày: Việc tranh chấp đất giữa ông L với ông H1 và bà T2 như thế nào hoàn toàn không biết, đề ngh Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt, nếu sau này phần đất tr n thuộc về ai, bà sẽ tự thương lượng giải quyết với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ kh i kiện giải quyết bằng vụ kiện khác.
3.4 Ông Huỳnh Văn L1 (đồng thời cũng là người được ủy quyền của Nguyễn Thị Xót, Huỳnh Thị Mỹ T3) trình bày: Việc tranh chấp đất giữa ông L với ông H1 như thế nào hoàn toàn không biết, phần đất ông đã được Ủy ban nhân dân huyện giao đất cho ông và ông ch sử dụng một phần nhỏ tr n diện T5 đất đang tranh chấp mà thôi, n n đề ngh Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt, nếu sau này giải quyết đất thuộc về ai, ông sẽ thương lượng với người đó, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ kh i kiện giải quyết bằng vụ kiện khác.
3.5 Ông Nguyễn Văn L2 đại diện cho Ban trị sự Phật giáo Hòa Hảo xã A trình bày: Trước đây vào khoảng năm 1970, các tín đồ trong Giáo hội có hùn tiền cất 1 phòng đọc giảng (phòng đọc giảng H4 nay cất tr n phần đất tranh chấp), phần đất xây cất phòng đọc giảng tr n không phải là đất của Ban tr sự, H4 nay phòng đọc giảng tr n đã xuống cấp và đã bỏ hoang từ năm 1999 cho đến nay. Nay ông không có ý kiến hay y u cầu gì trong vụ án này, đề ngh Tòa án giải quyết theo quy đ nh. Nếu phần đất tr n thuộc về ai (ông L, ông H1, bà T2) thì ông sẽ thương lượng với những người tr n đối với phòng giảng tr n.
4. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
1/ Chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Văn L đối với ông Lâm Văn H1 (chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1 là ông Lâm Văn H2, bà Lâm Th T2 và ông L Phước T1.
2/ Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/7/2006, giữa ông Lâm Văn H1 với ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2.
3/ Giao cho ông Nguy n Văn L được quản lý và sử dụng phần diện T5 đất 2.597m2 (đo đạc thực tế 3.097,2m2) T2ộc thửa số 1480, tờ bản đồ số 02, do bà H4 đứng t n, theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/2006 của Ủy ban nhân dân huyện T. Trong đó khấu trừ phần diện T5 đất lộ làng là 82,7m2. Phần diện T5 còn lại 3.014,5m2.
Trong phần diện T5 đất này có phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2, theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996, của Ủy ban nhân dân huyện T, cụ thể như sau:
Phần thứ nhất có diện T5 là 2.041m2:
Hướng Đông giáp Quốc lộ 30 có chiều dài là 15,6 mét (Từ mốc số 1 đo đến mốc số 2).
Hướng Nam giáp thửa 192 có chiều dài là 128,5 mét (Từ mốc số 1 đến mốc số 29).
Hướng Tây giáp với lộ làng có chiều dài là 15.07 mét (Từ mốc số 29 đến mốc số 11).
Hướng Bắc giáp với thửa đất số 193 có chiều dài là 133,81 mét (Từ mốc số 2 đến mốc số 11).
Phần thứ hai có diện T5 là 1.056,2m2. Trong phần diện T5 đất này có phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2, theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996, của Ủy ban nhân dân huyện T cụ thể như sau:
Hướng Đông giáp lộ làng có chiều dài là 16,58 mét (Từ mốc số 12 đo đến mốc số 28).
Hướng Nam giáp với thửa đất số 192 có chiều dài là 63,58 mét (Từ mốc số 28 đến mốc số 17).
Hướng Tây giáp với sông Tiền có chiều dài là 16,50 mét (Từ mốc số 17 đến mốc số 16).
Hướng Bắc giáp với thửa đất số 193 có chiều dài là 57,7 mét (Từ mốc số 12 đến mốc số 16).
Theo sơ đồ đo đạc ngày 14/6/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T và bi n bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ của Tòa án.
Ông Nguy n Văn L được đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đ nh (trừ phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2).
4/ Buộc ông Nguy n Văn L có trách nhiệm trả lại cho ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2 ½ số tiền sang nhượng đất là 97.500.000đ và bồi tH3 thiệt hại ch nh lệch giá là 23.581.000đ. Tổng cộng là 121.081.000đ (Một trăm hai mươi mốt triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
5. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguy n Văn L; L Phước T1; Lâm Th T2 kháng cáo bản án sơ thẩm:
- Ông Nguy n Văn L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, y u cầu bác yêu cầu độc lập của ông T1 và bà T2 về việc y u cầu ông L có trách nhiệm phải trả cho ông T1, bà T2 1/2 giá tr đất tranh chấp là 97.500.000đồng và bồi thường tiền ch nh lệch giá tr đất là 28.000.000 đồng. Ông L không phải trả số tiền này cho ông T1, bà T2.
- Ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2 y u cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T1, bà T2 và bà Nguy n Th T1.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kh i kiện vẫn giữ nguy n y u cầu kh i kiện; giữ nguy n nội dung kháng cáo;
Người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguy n đơn đề ngh : Chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông L; không chấp nhận y u cầu độc lập của bà T2, ông T1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. B i vì, căn cứ vào kết quả giám đ nh thì chữ ký tr n giấy bi n nhận thỏa thuận chuyển nhượng đất không phải chữ ký của bà H4. Do đó, ông L không phải có nghĩa vụ bồi thường giá tr đất cho phía bà T2, ông T1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan giữ nguy n y u cầu độc lập; không đồng ý với y u cầu của nguy n đơn; giữ nguy n nội dung kháng cáo.
Người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T2, ông T1 trình bày: Trước đây khi còn sống, bà H4 đã có lập bi n nhận thỏa thuận chuyển nhượng đất cho bà T2, hai b n đã giao nhận tiền xong, b n bà H4 đã tiến hành giao đất cho b n bà T2 nhưng không có lập thành văn bản; tuy nhi n, việc thỏa thuận giao đất này đã có ý kiến trình bày và thừa nhận của ông H1. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận y u cầu độc lập của bà T2, ông T1, công nhận cho bà T2, ông T1 được sử dụng phần đất đã nhận chuyển nhượng và không chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông L.
- Đại diện Viện iểm sát nhân dân T nh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực H4 đúng quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phi n tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận y u cầu kháng có của ông L, bà T2, ông T1. Giữ nguy n nội dung quyết đ nh bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào y u cầu kh i kiện của nguy n đơn là ông Nguy n Văn L đối với b đơn ông Lâm Văn H1, với người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan là bà T2, ông T1 nên Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh quan hệ tranh chấp của vụ án là Tranh chấp đòi lại tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phù hợp với quy đ nh tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất các b n đang có tranh chấp tọa lạc tại xã A, huyện Tnên Tòa án huyện T thụ lý giải quyết là phù hợp với quy tại khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
Tại phi n tòa phúc thẩm hôm nay, phía bà T2 tiếp tục có y u cầu giám đ nh lại nhưng bà T2 không cung cấp được giấy tờ, tài liệu mẫu nào khác so với các tài li u đã được giám đ nh. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận y u cầu giám đ nh lại của bà T2.
[2] Về nội dung:
Xét y u cầu kháng cáo của ông L, bà T2, ông T1 về việc y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm;
Ông L kháng cáo không đồng ý trả ½ giá tr chuyển nhượng đất và ½ phần bồi tH3 ch nh lệch cho b n bà T2, ông T1;
Bà T2, ông T1 kháng cáo y u cầu ông L tiếp tục thực H4 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- Về nguồn gốc đất: đã có đủ cơ s để xác đ nh phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của gia đình ông L; Trước đây khi bà H4 là ch ông Li n còn sống thì do bà H4 quản lý. Sau đó vào năm 2006, bà H4 chết, ông L là người thừa kế duy nhất của bà H4. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông L là có căn cứ.
- Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: giữa bà H4, ông H1, bà T2, ông T1:
+ Bà H4 và ông H1 sống chung từ năm 1990, không có đăng ký kết hôn; Mặc dù, hôn nhân của bà H4, ông H1 không được pháp luật thừa nhận nhưng căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các b n thì chứng minh được rằng giữa ông H1, bà H4 đã có thời gian chung sống với nhau như vợ chồng; ông H1 có cùng hộ khẩu với bà H4;
+ Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay được lập vào ngày 26/7/2006 trước thời điểm bà H4 chết, mặc dù giấy chuyển nhượng bằng tay này được trưng cầu giám đ nh, không phải chữ ký của bà H4. Nhưng khi còn sống ông H1 thừa nhận có việc thỏa thuận chuyển nhượng đất và đã nhận tiền của bà T2, ông T1, việc này cũng được chính quyền đ a phương xác nhận.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và xác đ nh trách nhiệm của mỗi b n, n n buộc ông L có nghĩa vụ trả lại cho bà T2, ông T1 1/2 số tiền nhận chuyển nhượng đất và ch u ½ tiền ch nh lệch giá đất là phù hợp và cũng phần nào có lợi cho cả hai b n.
Từ những phân T5 và nhận đ nh tr n, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông L, bà T2, ông T1. Giữ nguy n quyết đ nh của bản án sơ thẩm.
Xét lời trình bày và đề ngh của người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L là chưa hoàn toàn phù hợp n n không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét lời trình bày và đề ngh của người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T2, ông T1 là chưa hoàn toàn phù hợp n n không được chấp nhận.
Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Đối với những hộ dân đang tr n đất, các b n đều thống nhất để họ tự thỏa T2ận với nhau không có y u cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Do không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông L, bà T2, ông T1 nên ông L, bà T2, ông T1 phải ch u tiền án phí phúc thẩm. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét lời trình bày và đề ngh của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; hoản 1 điều 203 Luật đất đai; Điều 48 - Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Văn L; bà Lâm Th T2, ông L Phước T1;
2. Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện T;
Tuyên xử:
- Chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Văn L;
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay được lập vào ngày 26/7/2006, giữa ông Lâm Văn H1 với ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2.
- Giao cho ông Nguy n Văn L được quyền quản lý và sử dụng phần đất có diện T5 2.597m2 (theo đo đạc thực tế 3.097,2m2) T2ộc thửa số 1480, tờ bản đồ số 02, do bà H4 được cấp theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996 của Ủy ban nhân dân huyện T. Trong đó: khấu trừ phần diện T5 đất lộ làng là 82,7m2; phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2, theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996, của Ủy ban nhân dân huyện T;
Phần thứ nhất có diện T5 là 2.041m2:
Hướng Đông giáp Quốc lộ 30 có chiều dài là 15,6 mét (Từ mốc số 1 đo đến mốc số 2).
Hướng Nam giáp thửa 192 có chiều dài là 128,5 mét (Từ mốc số 1 đến mốc số 29).
Hướng Tây giáp với lộ làng có chiều dài là 15.07 mét (Từ mốc số 29 đến mốc số 11).
Hướng Bắc giáp với thửa đất số 193 có chiều dài là 133,81 mét (Từ mốc số 2 đến mốc số 11).
Phần thứ hai có diện T5 là 1.056,2m2. Trong phần diện T5 đất này có phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2, theo quyết đ nh số 131/QĐ-UB ngày 30/11/1996, của Ủy ban nhân dân huyện T cụ thể như sau:
Hướng Đông giáp lộ làng có chiều dài là 16,58 mét (Từ mốc số 12 đo đến mốc số 28).
Hướng Nam giáp với thửa đất số 192 có chiều dài là 63,58 mét (Từ mốc số 28 đến mốc số 17).
Hướng Tây giáp với sông Tiền có chiều dài là 16,50 mét (Từ mốc số 17 đến mốc số 16).
Hướng Bắc giáp với thửa đất số 193 có chiều dài là 57,7 mét (Từ mốc số 12 đến mốc số 16).
(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 14/6/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án).
Ông Nguy n Văn L được đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đ nh (trừ phần diện T5 đất của bà Nguy n Th P 67,15m2 và phần diện T5 đất ông Huỳnh Văn L1 136,8m2).
- Buộc ông Nguy n Văn L có trách nhiệm trả lại cho ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2 ½ số tiền sang nhượng đất là 97.500.000đ và trả 1/2 số tiền chênh lệch giá đất là 23.581.000đ. Tổng cộng là 121.081.000đ (Một trăm hai mươi mốt triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
ể từ khi có đơn y u cầu thi hành án của bà T2, ông T1 mà ông L chưa thi hành xong số tiền tr n, thì hàng tháng ông L còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm:
Ông Nguy n Văn L phải nộp 6.054.000đ (Sáu triệu không trăm năm mươi mốt nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông L đã nộp là 1.875.000đ, theo bi n lai T2 tiền tạm ứng án phí số 008182 ngày 22/12/2009, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông. Ông L còn phải nộp tiếp số tiền 4.179.000đ (Bốn triệu một trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
Ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T2 đã nộp là 10.300.000đ, theo bi n lai T2 tiền tạm ứng án phí số 0000616 ngày 19/3/2018, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T. Bà T2; ông T1 còn được nhận lại 10.100.000đ (Mười triệu một trăm nghìn đồng).
Ông L Phước T1 và bà Lâm Th T2 được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.750.000đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), theo bi n lai số 001675 ngày 12/01/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Ông Lâm Văn H2 (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1), được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà ông H1 đã nộp là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo bi n lai số 12990 ngày 28/02/2014, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguy n Văn L phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai T2 tạm ứng án phí số 0001584, ngày 17/12/2018 (do Nguy n Th N1 nộp thay).
Bà Lâm Th T2, ông L Phước T1 phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo bi n lai T2 tạm ứng án phí số 0001579, ngày 17/12/2018
- Về chi phi xem xét thẩm định và định giá tài sản:
Ông Nguy n Văn L tự nguyện ch u 1.073.000đ (Một triệu không trăm bảy mươi ba nghìn đồng), tiền chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ (đã nộp xong).
Bà Lâm Th T2 phải ch u 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), tiền chi phí đ nh giá tài sản (đã nộp xong).
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Trong trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T2ận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ- T TAND T nh; - V SND T nh; - TAND H. Tam Nông; - Chi cục THADS H. Tam Nông; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI Đ N XÉT XỬ HÚC THẨM THẨM H N-CHỦ TỌA HIÊN TÒA Nguyễn Thị Võ Trinh |