vanban.org

Bản án 458/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 06/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại;

giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hòa H phạm tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hòa Hưng - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 458/2021/HS-PT

Ngày: 06/12/2021

––––––––––––––– Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng Bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Diệu Thúy - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên. Ngày 06/12/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 442/2021/TLPT- HS ngày 06 tháng 7 năm 2021đối với bị cáo Lê Hòa H do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Bị cáo bị kháng cáo: Họ và tên: Lê Hòa H. Tên gọi khác: H đầu bò. Sinh năm 1990. Nơi sinh : tỉnh Bình Thuận. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố M Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề ngH2: lao động biển. Trình độ học vấn: lớp 5/12. Con ông Lê A, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị Thanh P, sinh năm 1959. Anh, chị em ruột: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1983, H là con út trong gia đình. Vợ Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1989. Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 19/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 09/11/2012 chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lương Công Hữu Đức, Văn phòng luật sư Số 7, Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận. (Có mặt). Người đại diện của bị hại Lương Văn M: Bà Trương Thị Thanh L, sinh năm 1979; Cháu Lương Thế V, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2005, do bà Trương Thị Thanh L (mẹ) đại diện. Nơi cư trú: khu phố 13, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt) .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 01/01/2021, Lê Hòa H đến Trung tâm văn hóa thể dục thể thao Phan Rí Cửa thuộc khu phố Song Thanh 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận chơi tại quầy bầu cua do Đoàn ca nhạc – xiếc nghệ thuật tổng hợp PMH tổ chức. Đến 21 giờ cùng ngày, Lương Văn M (tức B) cũng tới quầy bầu cua chơi. M thấy H mua thẻ chơi bầu cua nên M xin H cho 01 thẻ để chơi nên H cho M 1 thẻ. M chơi thua thì M dùng tay liên tục hốt thẻ và giở bàn bầu cua, không cho mọi người chơi. H thấy M đã say nên H nói: “Anh Bình về đi, để mấy em chơi”, nhưng M không chịu về mà chửi H. H dùng tay đẩy M ra thì M dùng tay đánh 1 cái vào mặt bên trái của H, H né tránh nên trúng sượt nhẹ. H kêu M về và dùng tay đẩy M thì M nhào vô đòi đánh H. Khi H và M đứng đối diện cách nhau 01 mét thì H dùng tay trái tát 01 cái vào mặt bên phải của M, rồi H dùng chân phải đạp 01 cái vào bụng bên trái của M, bị đạp M khom người xuống nhào đến thì H tiếp tục dùng chân trái đạp tiếp 01 cái vào bụng bên phải của M, đồng thời H dùng tay trái tát vào vùng mặt bên phải của M làm M té ngã nghiêng về bên trái ở tư thế khuỷu tay trái của M chống xuống nền xi măng, mặt và đầu của M cách nền xi măng khoảng 40-50cm. H tiếp tục dùng chân phải đá 1 cái trúng vào vùng mặt, trán bên trái của M làm M ngã nằm ngửa, đầu đập xuống nền xi măng. H tiếp tục dùng chân phải đá vào bụng bên trái của M 1 cái, làm M nằm im bất tỉnh thì Trần Văn Chiến (sinh năm 1974, trú tại khu phố Minh Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong) đang đứng gần đó vào can ngăn không cho H đánh M và bảo H đi về nên H bỏ đi cách nơi M đang nằm khoảng 3m. Chiến nhìn thấy M nằm ngửa dưới nền xi măng nên đi đến dùng 2 tay nắm vào 2 bên vai của M và kéo M ngồi dậy, nH khi Chiến kéo 02 vai của M lên do áo khoác của M đang mặc trơn nên 2 tay của Chiến bị tuột ra làm phần đầu phía sau của M đập

xuống nền xi măng. Cùng lúc này, Dương Ngọc H2 (tức Rau muống, sinh năm 1982, trú tại khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong) đến đỡ M dậy và kêu mọi người đưa M đến Phòng khám Đa khoa Phan Rí Cửa cấp cứu. Lê Hòa H thấy vậy nên bảo H2 chở H về nhà. Trần Văn Chiến đi đến nhà của M gặp Trương Thị Thanh L, là vợ của M và báo cho chị Lan biết là M đang cấp cứu tại Phòng khám Đa khoa Phan Rí Cửa. Lan đến Phòng khám Đa khoa Phan Rí Cửa gặp M, Lan hỏi thì M nói không bị sao và đòi về nên Lan đưa M về nhà. Đến 17 giờ ngày 02/01/2021, Lan thấy M bị hôn mê thì đưa M đến Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận cấp cứu khoảng 10 phút thì M tử vong. Kết quả khám nghiệm tử thi ngày 02/01/2021 và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 37/2021/TT ngày 29/3/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Thuận, kết luận dấu vết tổn thương và nguyên nhân chết của Lương Văn M như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: - Chấn thương, vết thương vùng trán trái: Dập não, xuất huyết thân não và tiểu não; chấn thương, vết thương do vật tày gây ra, chiều hướng tác động từ trước ra sau và chấn thương, vết thương này gây tử vong cho nạn nhân. - Dập niêm mạc môi dưới bên trái, kích thước 3 x 0,5cm. Vết thương do vật tày gây ra, chiều hướng tác động từ trước ra sau. Nguyên nhân chết: Hôn mê sâu không hồi phục do chấn thương sọ não kín: Dập não, xuất huyết não dẫn đến tử vong. Việc thu giữ, xử lý vật chứng: Lê Hòa H giao nộp 01 nón kết màu trắng có chữ PORSCHE màu đen; 01 áo thun xám màu đen, giữa ngực áo có 3 cúc áo màu đen, ngực trái có chữ GĐ và 01 quần Jean lửng màu xanh nhạt, lưng quần sau bên phải có chữ LACOSTE. Qua điều tra xác định, số tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận đã trả lại cho H. Về phần dân sự: Bà Trương Thị Thanh L (vợ của Lương Văn M) yêu cầu bồi thường số tiền 1.699.900.000 đồng, gồm: tiền viện phí 1.300.000 đồng, chi phí mai táng 73.600.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi cháu Lương Thế V (sinh ngày 20/5/2005) là con của M mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; cấp dưỡng cho Trương Thị Thanh L là vợ của M, mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi bà Lan đủ 60 tuổi với tổng số tiền 1.476.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, là vợ của bị cáo Lê Hòa H đã bồi thường cho bà Trương Thị Thanh L số tiền 20.000.000 đồng. Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận để xét xử Lê Hòa H về tội “giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã tuyên xử:

Căn cứ vào: điểm n khoản 1 Điều 123; các Điều 38, 50 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hòa H phạm tội “Giết người”. Xử phạt: Bị cáo Lê Hòa H 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 03 tháng 01 năm 2021). Về phần dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 591 và Điều 593 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và phía bị hại như sau: Bị cáo Lê Hòa H bồi thường cho chị Trương Thị Thanh L số tiền 193.900.000 đồng (một trăm chín mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng) và cấp dưỡng cho cháu Lương Thế V (sinh ngày 20/5/2005) do bà Trương Thị Thanh L đại diện, mỗi tháng 1.000.000đồng (một triệu đồng), kể từ tháng 01/2021 cho đến khi cháu Lương Thế V đủ 18 tuổi và có khả năng tự nuôi sống mình. Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 10/6/2021, người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Trương Thị Thanh L và bà Lương Thị Th kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp cho người bị hại - bà Trương Thị Thanh L trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị hại rất khó khăn, mặc dù đã thỏa thuận nH phía bị cáo không có thiện chí bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường dân sự. Bị cáo đề nghị giữ nguyên mức hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm: Bản án sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, việc không thực hiện thỏa thuận bồi thường thuộc về giai đoạn thi hành án, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đối với việc đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo vì lý do chưa thực hiện bồi thường theo thỏa thuận, thực tế gia đình bị cáo cũng rất khó khăn, đi làm thuê và trong dịch covid cũng không có việc làm nên chưa thể bồi thường như đã thỏa thuận. Tuy nhiên bản án sơ thẩm đã xét xử đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, mức án 13 năm tù đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại nộp đúng hạn, có quyền kháng cáo về phần hình phạt và bồi thường dân sự thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử xem xét.

Bà Lương Thị Th là chị ruột của người bị hại cùng ký tên trong đơn kháng cáo, tuy nhiên bà Thanh không có tư cách tham gia tố tụng trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xét kháng cáo đối với bà Th. [2]. Về kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường: [2.1]. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chấp nhận tội danh và hình phạt đã bị tuyên xử, không có kháng cáo. [2.2]. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù bị cáo trước đó có thỏa thuận bồi thường đầy đủ các khoản bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng cho con bị hại, đã được công nhận trong quyết định của bản án sơ thẩm nhưng đến nay phía bị cáo vẫn không thực hiện việc bồi thường; gia đình bị hại trình bày hoàn cảnh rất khó khăn, cần tiền để trả nợ chi phí ma táng bị hại, nuôi con bị hại nên nay phía người bị hại kháng cáo yêu cầu được sớm nhận tiền bồi thường, tăng mức bồi thường dân sự và tăng hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: [2.2.1]. Đối với kháng cáo về việc tăng mức bồi thường: Đối với khoản tiền bồi thường thiệt hại thêm 193.000.000 đồng và cấp dưỡng cho con bị hại mỗi tháng 1000.000 đồng mà phía bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận là không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm. Việc đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường là vượt quá phạm vi thỏa thuận phần bồi thường dân sự đã được Tòa án công nhận. Trường hợp này, để được thi hành phần bồi thường dân sự thì người đại diện hợp pháp làm đơn yêu cầu thi hành phần dân sự của quyết định của bản án sơ thẩm nộp cơ quan thi hành án để được thi hành ngay như bản án sơ thẩm đã tuyên. [2.2.2]. Đối với kháng cáo tăng hình phạt vì không thực hiện thỏa thuận bồi thường dân sự, xét thấy: Mức hình phạt 13 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để tăng hình phạt đối với bị cáo. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại; chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; 1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: điểm n khoản 1 Điều 123; các Điều 38, 50 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. - Tuyên bố: Bị cáo Lê Hòa H phạm tội “Giết người”. - Xử phạt: Bị cáo Lê Hòa H 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 03 tháng 01 năm 2021). - Về phần dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 591 và Điều 593 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và phía bị hại như sau: Bị cáo Lê Hòa H bồi thường cho bà Trương Thị Thanh L số tiền 193.900.000đồng (một trăm chín mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng) và cấp dưỡng cho cháu Lương Thế V (sinh ngày 20/5/2005) do bà Trương Thị Thanh L đại diện, mỗi tháng 1.000.000đồng (một triệu đồng), kể từ tháng 01/2021 cho đến khi cháu Lương Thế V đủ 18 tuổi và có khả năng tự nuôi sống mình. Các khoản tiền này có hiệu lực thi hành ngay dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Tiếp tục tạm giam bị cáo theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử. Các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ