vanban.org

Bản án 455/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/05/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Bích T - Công ty TNHH L"
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Bản án số: 455/2018/DS-PT

Ngày: 10 - 5 - 2018

V/v tranh chấp yêu cầu thực hiện

nghĩa vụ và hợp đồng vay tài sản.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

-!Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Trịnh Thị Ánh

Các"Thẩm"phán:

Bà Phan Thị Liên

Bà Đặng Huyền Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án, Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

-" Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Võ Thị Vĩnh Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 05 năm 2018, tại Phòng xử án dân sự - Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

75/2018/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp yêu cầu thực hiện

nghĩa vụ và hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 05/01/2018 của Tòa án

nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1179/2018/QĐ-PT ngày

19 tháng 03 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2387/2018/QĐ-PT ngày 18

tháng 04 năm 2018, giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn: Bà Nguyễn!Thị!Bích!Thủy, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số

126 đường Phó Cơ Điều, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"nguyên"đơn: Ông Bùi Văn Trường, sinh

năm 1982; Địa chỉ: Số 34 đường Tân Xuân, Phường 8, quận Tân Bình, Thành

1

phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: Số 15 đường Phan Văn Năm, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy"ủy"quyền"ngày"05/6/2017" tại" Văn" phòng" công" chứng" Thủ" Đức," số" công" chứng" 000008528," quyển" số" 01TP/CC-SCC/HĐGD).

2."Bị"đơn: Công!ty!TNHH!Long!Hưng!Phát.

Trụ sở: Số 3E/12 đường Phổ Quang, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố

Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh Dũng; chức danh: Giám đốc.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"bị"đơn: Ông Huỳnh Kim Ngân, sinh năm

1976; Cư trú: 136 Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy"ủy"quyền"ngày"07/04/2018).

3."Người"kháng"cáo:"Công ty TNHH Long Hưng Phát – Bị đơn.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN

Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Bích Thủy trình bày tại đơn khởi kiện ngày

02/6/2017 như sau:!

Năm 2008, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Bích Thủy góp vốn bằng giá trị

quyền sử dụng đất căn nhà số 09 Phạm Phú Thứ, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh với Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Thương mại Thăng Long (sau đây gọi tắt là Doanh nghiệp Thăng Long) để thực hiện dự án Trung tâm thương mại và căn hộ Thăng Long (Tòa nhà Bảy Hiền Town); số tiền mà Doanh nghiệp Thăng Long còn thiếu bà Thủy là 10.000.000.000 đồng.

Năm 2010, ông Đinh Tấn Kiệt đại diện Doanh nghiệp Thăng Long có vay của

bà Thủy số tiền 5.000.000.000 đồng bằng hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba là Ngân hàng TMCP An Bình, kèm theo cam kết thanh toán lãi và gốc đúng hạn với Ngân hàng An Bình. Số tiền vay này đến nay vẫn chưa thanh toán đầy đủ gốc và lãi như cam kết, còn bà Thủy thì phải thanh toán lãi và gốc cho Ngân hàng An Bình.

Đến ngày 15/03/2011, Doanh nghiệp Thăng Long đã chuyển nhượng toàn bộ

dự án nêu trên cho Công ty TNHH Long Hưng Phát (gọi tắt là bị đơn) theo “Thỏa thuận chuyển nhượng dự án” số 139/TT-TL/2011. Nội dung chi tiết theo hợp đồng chuyển nhượng số 139/TT-TL/2011, trong đó bị đơn đồng ý thanh toán tất cả các khoản nợ của Doanh nghiệp Thăng Long cho bà Thủy.

Ngày 15/11/2013, bị đơn có làm giấy “Biên bản bàn giao giám đốc” – phụ lục

03 – Tổng kết công nợ phải trả đến ngày 15/11/2013, nội dung: Tổng kết công nợ

2

phải trả cho bà Thủy là 10.000.000.000 đồng tiền chuyển quyền sử dụng nhà đất và

5.000.000.000 đồng Doanh nghiệp Thăng Long vay riêng. Cùng ngày 15/11/2013, bị

đơn đã thanh toán cho bà Thủy 5.000.000.000 đồng, từ đó đến nay bị đơn chỉ thanh

toán tiền lãi nhỏ giọt. Nay bà Thủy kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn thiếu

10.000.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính là 1.500.000.000 đồng. Tổng cộng là

11.500.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ủy quyền cho ông Bùi Văn Trường đại diện xác

định lại yêu cầu khởi kiện như sau: Đối với khoản vay góp vốn bằng giá trị quyền

sử dụng đất, sau khi tiếp nhận dự án thì ngày 15/11/2013 bị đơn đã trả được cho

nguyên đơn 5.000.000.000 đồng; tiếp đến ngày 21/11/2014, ngày 06/02/2015 và

23/12/2015, bị đơn trả được 400.000.000 đồng. Như vậy, khoản nợ 10.000.000.000

đồng mà DNTN Thăng Long chuyển qua thì bị đơn đã trả cho bà Thủy tổng cộng là

5.400.000.000 đồng, số nợ còn lại là 4.600.000.000 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu

bị đơn trả số tiền nợ này và tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam công bố là 9%/năm (tương đương 0,75%/tháng). Tiền lãi được tính trên số nợ

gốc và thời gian tính lãi khác nhau, cụ thể: Từ ngày 15/3/2011 đến 15/11/2013, tiền

lãi được tính trên số nợ gốc 10.000.000.000 đồng, tương đương 32 tháng:

10.000.000.000 đồng x (32 tháng x 0,75%/tháng) = 2.400.000.000 đồng; từ ngày

15/11/2013 đến ngày 30/11/2017 (48 tháng), tiền lãi được tính trên số nợ gốc

4.600.000.000 đồng x (48 tháng x 0,75%/tháng) = 1.656.000.000 đồng. Như vậy,

tổng số tiền lãi mà bị đơn phải trả cho bà Thủy từ ngày 15/3/2011 đến ngày

30/11/2017 là 4.056.000.000 đồng, cộng tiền gốc (4.600.000.000 đồng) là

8.656.000.000 đồng.

Đồng thời, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: Ngày 03/6/2011, nguyên

đơn có thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại số 126 Phó Cơ

Điều, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tại Ngân hàng TMCP An Bình

(theo"hợp"đồng"tín"dụng"số:"0521/11/TD/I.5"ngày"03/6/2011) để vay giùm cho bị đơn

số tiền 4.700.000.000 đồng và ngày 08/10/2012 nguyên đơn đã tất toán khoản vay

nêu trên cho Ngân hàng An Bình; nhưng kể từ ngày bị đơn nhận số tiền

4.700.000.000 đồng cho đến nay vẫn chưa trả cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu

cầu bị đơn trả số tiền 4.700.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân

hàng Nhà nước công bố từ tháng 7 năm 2011 đến hết tháng 11/2017 là 76 tháng, cụ

thể: 4.700.000.000 đồng x (76 tháng x 0,75%/tháng) = 2.679.000.000 dồng; tổng tiền

gốc và lãi là: 7.379.000.000 đồng.

Cộng nợ gốc và lãi của hai khoản vay mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là:

16.035.000.000 đồng.

3

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn - Công ty TNHH Long

Hưng Phát ủy quyền cho ông Nguyễn Thái Hùng đại diện trình bày:

Ngày 15/3/2011, bị đơn có nhận chuyển nhượng dự án “Cao ốc bảy Hiền” từ

Doanh nghiệp Thăng Long theo hợp đồng chuyển nhượng số 139/TT-TL tại địa chỉ số 09 Phạm Phú Thứ, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn là chủ khu đất nêu trên và đã chuyển nhượng cho Doanh nghiệp Thăng Long để xây dựng dự án “Cao ốc Bảy Hiền” và Doanh nghiệp Thăng Long còn nợ của nguyên đơn số tiền 10.000.000.000 đồng. Theo nội dung của thỏa thuận, thì Doanh nghiệp Thăng Long thừa nhận còn nợ của nguyên đơn số tiền nêu trên và trong trường hợp nguyên đơn đồng ý cho Doanh nghiệp Thăng Long chuyển nghĩa vụ cho bị đơn thì ba bên lập thành biên bản ký xác nhận việc chuyển nghĩa vụ trả nợ này. Trường hợp nguyên đơn không đồng ý, thì bị đơn sẽ ứng trước cho Doanh nghiệp Thăng Long để hoàn trả cho nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn không đồng ý chuyển nghĩa vụ trả nợ như trên mà nguyên đơn muốn nhận trực tiếp từ Doanh nghiệp Thăng Long và khoản nợ này đã được bị đơn chuyển trả 5.000.000.000 đồng vào ngày 15/11/2013. Khoản tiền còn lại nguyên đơn sẽ liên hệ với Doanh nghiệp Thăng Long và tại biên bản làm việc ngày 19/11/2015, giữa nguyên đơn và bị đơn thì nguyên đơn đã xác định việc chuyển nhượng nhà đất số 09 Phạm Phú Thứ, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì nguyên đơn và Doanh nghiệp Thăng Long đã tất toán đầy đủ công nợ và việc góp vốn dự án giữa hai bên cũng đã thanh toán đầy đủ, không còn vướng mắc gì. Tuy nhiên, bị đơn vẫn chấp nhận trả thay cho Doanh nghiệp Thăng Long số tiền này với điều kiện dự án theo hợp đồng số 139/TT-TL/2011 ngày 15/3/2011 hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng.

Ngoài khoản nợ nêu trên thì bị đơn không chịu trách nhiệm bất kỳ khoản nợ

nào giữa Doanh nghiệp Thăng Long với nguyên đơn và bị đơn không đồng ý thanh toán khoản vay mà nguyên đơn vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 05/01/2018 của Tòa án

nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử như sau:

1."Chấp"nhận"một"phần"yêu"cầu"khởi"kiện"của"nguyên"đơn"bà"Nguyễn"Thị"

Bích"Thủy."

Buộc"bị"đơn"Công"ty"TNHH"Long"Hưng"Phát"trả"cho"nguyên"đơn"bà"Nguyễn"

Thị"Bích"Thủy"số"tiền"8.656.000.000"(tám"tỷ"sáu"trăm"năm"mươi"sáu"triệu)"đồng;" trong"đó"bao"gồm:"tiền"gốc"4.600.000.000"(bốn"tỷ"sáu"trăm"triệu)"đồng"và"tiền"lãi" 4.056.000.000"(bốn"tỷ"không"trăm"năm"mươi"sáu"triệu)"đồng."

4

Thời"hạn"và"phương"thức"thanh"toán:"Trả"một"lần"ngay"sau"khi"bản"án"có"

hiệu"lực"pháp"luật."

Trường"hợp"bên"có"nghĩa"vụ"chậm"trả"tiền"thì"bên"đó"phải"trả"lãi"đối"với"số"

tiền"chậm"trả"tương"ứng"với"thời"gian"chậm"trả."Lãi"suất"phát"sinh"do"chậm"trả"tiền"

được"xác"định"theo"thỏa"thuận"của"các"bên"nhưng"không"được"vượt"quá"mức"lãi"

suất"được"qui"định"tại"khoản"1"điều"468"của"Bộ"luật"dân"sự"năm"2015;"nếu"không"

có"thỏa"thuận"thì"thực"hiện"theo"quy"định"tại"khoản"2"điều"468"của"Bộ"luật"dân"sự"

năm"2015."

Thi"hành"tại"Cơ"quan"Thi"hành"án"dân"sự"có"thẩm"quyền."

2."Tách"yêu"cầu"khởi"kiện"của"bà"Nguyễn"Thị"Bích"Thủy"buộc"Công"ty"TNHH"

Long"Hưng"Phát"phải"trả"khoản"vay"được"bảo"đảm"bởi"bên"thứ"ba"tại"Ngân"hàng"

Thương" mại" Cổ"phần" An"Bình"với" số"tiền" 4.700.000.000" (bốn" tỷ"bảy" trăm" triệu)"

đồng"thành"một"vụ"án"dân"sự"khác"nếu"các"đương"sự"có"tranh"chấp."

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự cũng

như các quy định về thi hành án dân sự.

Ngày 19/01/2018, bị đơn là Công ty TNHH Long Hưng Phát có đơn kháng

cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm

theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị

đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền mà Doanh nghiệp Thăng Long nợ bà

Nguyễn Thị Bích Thủy cùng lãi suất, tổng cộng là 8.656.000.000 đồng.

Tại!phiên!tòa!phúc!thẩm:!!

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các

đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Bị đơn - Công ty TNHH Long Hưng Phát (ủy quyền cho ông Huỳnh Kim

Ngân đại diện) trình bày yêu cầu kháng cáo như sau:

+ Cấp sơ thẩm xác định chứng cứ không đúng theo quy định tại Điều 95 của

Bộ luật tố tụng dân sự, không đúng sự thật khách quan của vụ án, bỡi lẽ: Chứng cứ

quan trọng nhất là “Biên bản làm việc” ngày 19/11/2015 có nội dung: Bà Nguyễn

Thị Bích Thủy xác nhận giữa bà và bị đơn đã thanh toán đầy đủ việc chuyển

nhượng nhà đất số 09 Phạm Phú Thứ, Phường 11, quận Tân Bình và việc vốn góp

đã thanh toán đầy đủ, không vướng mắc gì, nhưng trong phần nhận định cấp sơ

thẩm đã bỏ qua chứng cứ này.

+ Phía nguyên đơn có lời khai mâu thuẫn với hợp đồng số 139/TT-TL/2011

ngày 15/03/2011, cụ thể tại phiên tòa đại diện nguyên đơn cho rằng việc chuyển

5

nhượng nhà đất số 09 Phạm Phú Thứ là do nguyên đơn góp vốn vào dự án bằng giá trị quyền sử dụng đất với số tiền là 10.000.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không cung cấp được hồ sơ góp vốn; trong khi đó hợp đồng lại xác định 10.000.000.000 đồng này là tiền Doanh nghiệp Thăng Long còn nợ bà Thủy từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

+ Phần nhận định của bản án có xem xét đến tài liệu do nguyên đơn cung

cấp, đó là Phụ lục 3 của Biên bản bàn giao giám đốc, nhưng vi phạm khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự, vì: Không có “Biên bản bàn giao giám đốc” mà chỉ có “Phụ lục 3 Biên bản bàn giao giám đốc”, bên bàn giao là Tạ Nguyên Phúc, bên nhận ko rõ là ai? Hồ sơ không có tài liệu chứng minh ông Phúc là đại diện theo pháp luật của bị đơn tại thời điểm ký và nội dung của biên bản này là gì? Tài liệu này ký ngày 15/11/2013, nhưng ngày 19/11/2015 thì nguyên đơn cũng xác nhận bị đơn không còn nợ nguyên đơn,…. nhưng tòa án xem đây là chứng cứ buộc bị đơn trả nợ cho nguyên đơn là không đúng thực tế.

+ Về áp dụng pháp luật: Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 468 Bộ luật dân sự để

tính lãi vay là ko đúng, vì: Không chứng minh được nghĩa vụ trả nợ được chuyển giao từ Doanh nghiệp Thăng Long sang bị đơn? Số tiền 10.000.000.000 đồng giá trị chuyển quyền sử dụng đất từ bà Thủy cho Doanh nghiệp Thăng Long là góp vốn của bà Thủy hay nợ chưa thanh toán khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất? Giữa bà Thủy và Doanh nghiệp Thăng Long khi ký hợp đồng có thỏa thuận về lãi suất chậm trả hay không? Đây không phải là khoản vay theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015.

+ Theo thỏa thuận chuyển nhượng số 139, mục 2.2.3.2 thì ba bên phải ký

biên bản xác nhận việc chuyển giao nghĩa vụ. Nếu bà Thủy không đồng ý thì công ty Long Hưng Phát ứng trước cho Doanh nghiệp Thăng Long để trả cho bà Thủy, tiền ứng trước sẽ trừ vào tiền chuyển nhượng. Án sơ thẩm bỏ qua thỏa thuận này nên ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công ty Long Hưng Phát.

+ Trong đơn kiện, nguyên đơn nêu hai yêu cầu buộc bị đơn phải trả, đó là:

5.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng dự án và 5.000.000.000 đồng tiền ông Đinh Tấn Kiệt vay năm 2010. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đưa thêm 01 yêu cầu, buộc bị đơn trả 4.700.000.000 đồng xuất phát từ việc bà Thủy cho rằng bà đã vay của ngân hàng An Bình giùm cho bị đơn. Tòa án tách yêu cầu này thành vụ án khác do vượt quá phạm vi kiện ban đầu, nhưng bản án chỉ giải quyết một yêu cầu liên quan đến 5.000.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng dự án, còn 5.000.000.000 đồng còn lại Tòa án ko giải quyết, làm ảnh hưởng đến tiền án phí mà các bên phải đóng. Nguyên đơn không chịu khoản án phí nào là không đúng. Số tiền nguyên đơn yêu cầu có liên quan đến ông Đinh Tấn Kiệt và Doanh nghiệp Thăng Long nhưng

6

cấp sơ thẩm không đưa ông Kiệt và Doanh nghiệp Thăng Long vào tham gia tố

tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.

Với!những ý kiến đã trình bày, bị đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả tiền gốc

và tiền lãi là 8.656.000.000đ, đồng thời sửa về án phí.

- Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bích Thủy ủy quyền cho ông Bùi Văn

Trường đại diện đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của

bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

-"Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh:"Bà"Võ"Thị"Vĩnh"

Hưng"–"Kiểm"sát"viên"phát"biểu"ý"kiến"của"Viện"kiểm"sát"về"việc"tuân"theo"pháp"

luật"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án"dân"sự"ở"giai"đoạn"phúc"thẩm"như"sau:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật.

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn - Công ty TNHH Long Hưng Phát

làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên chấp nhận.

Về nội dung: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn là bà Thủy yêu cầu bị đơn là

công ty Long Hưng Phát trả khoản nợ 5.000.000.000 đồng theo “Biên bản bàn giao

giám đốc” – Phụ lục 03 – Tổng kết công nợ phải trả đến 15/11/2013 và

5.000.000.000 đồng mà nguyên đơn cho Doanh nghiệp Thăng Long (có đại diện là

ông Đinh Tấn Kiệt) vay năm 2010, với yêu cầu khởi kiện này thấy rằng:

Đối với khoản nợ phát sinh từ việc chuyển giao nghĩa vụ từ Doanh nghiệp

Thăng Long sang công ty Long Hưng Phát, phía bị đơn không thừa nhận việc

chuyển giao nghĩa vụ trả nợ này; bà Thủy cũng không có văn bản xác nhận chuyển

giao nghĩa vụ giữa ba bên theo thỏa thuận tại hợp đồng số 139/TT-TL/2011 ngày

15/03/2011. Vì vậy, để giải quyết vụ án thì cần thiết phải đưa Doanh nghiệp Thăng

Long vào tham gia tố tụng, nhưng cấp sơ thẩm chưa đưa Doanh nghiệp Thăng

Long và ông Đinh Tấn Kiệt vào tham gia theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 của

Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với khoản vay 5.000.000.000 đồng mà nguyên đơn trình bày tại đơn

khởi kiện cho rằng đây là khoản vay riêng của Doanh nghiệp Thăng Long, yêu cầu

này còn thể hiện rõ trong các biên bản khác của Tòa án nhưng cấp sơ thẩm không

làm rõ nguyên đơn còn giữ yêu cầu này hay không để giải quyết theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự.

Với những vi phạm trên, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, đề nghị

Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự để

7

hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

[1] Về hình thức: Ngày 05/01/2018, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành

phố Hồ Chí Minh tuyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST. Ngày 19/01/2018, bị đơn – Công ty TNHH Long Hưng Phát nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị đơn được nộp trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, hợp lệ nên chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Bích Thủy ủy quyền

cho ông Bùi Văn Trường đại diện, bị đơn – Công ty TNHH Long Hưng Phát ủy quyền cho ông Huỳnh Kim Ngân đại diện, các văn bản ủy quyền hợp lệ. Bị đơn kháng cáo không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại cấp sơ thẩm để xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ phát

sinh từ việc chuyển nghĩa vụ thanh toán từ Doanh nghiệp Thăng Long sang bị đơn theo “Thỏa thuận chuyển nhượng dự án” số 139/TT-TL/2011 ngày 15/03/2011; đồng thời yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ do ông Đinh Tấn Kiệt (đại diện Doanh nghiệp Thăng Long) vay vào năm 2010. Vì vậy, cần xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc không đồng ý trả

cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và nợ lãi của khoản tiền chuyển nhượng dự án từ Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Thương mại Thăng Long sang cho bị đơn, tổng cộng là 8.656.000.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên; đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời đưa Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Thương mại Thăng Long vào tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

“Thỏa thuận chuyển nhượng dự án” số 139/TT-TL/2011 ngày 15/03/2011

giữa bị đơn – Công ty TNHH Long Hưng Phát (sau đây viết tắt là công ty Long Hưng Phát) và Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Thương mại Thăng Long (sau đây viết tắt là DNTN Thăng Long), có nội dung: DNTN Thăng Long chuyển nhượng cho công ty Long Hưng Phát dự án Trung tâm thương mại và căn hộ Thăng Long tại Phường 11, quận Tân Bình. Tại mục 2.2.3 của thỏa thuận có ghi: “Ngày" 15/6/2009,"Thăng"Long"có"ký"biên"bản"xác"nhận"công"nợ"với"bà"Nguyễn"Thị"Bích"

8

Thủy," về" việc" Thăng" Long" còn" nợ" bà" Thủy" số" tiền" mua" nhà" (và" nhận" chuyển"

nhượng"quyền"sử"dụng"đất)"theo"Hợp"đồng"mua"bán"nhà"số"9305"ngày"22/4/2008"

là"10.000.000.000"đồng"(mười"tỷ"đồng);"

Long"Hưng"Phát"cam"kết"đồng"ý"tiếp"nhận"và"thực"hiện"tất"cả"các"nghĩa"vụ"

mà"Thăng"Long"đã"cam"kết"với"bà"Thủy"trong"biên"bản"xác"nhận"công"nợ"nêu"trên"

trong"trường"hợp"bà"Thủy"đồng"ý"cho"Thăng"Long"chuyển"nghĩa"vụ"trả"số"nợ"gốc"

(10.000.000.000"đồng)"và"số"lãi"phát"sinh"cho"Long"Hưng"Phát"thực"hiện."Để"thực"

hiện"điều"này,"Thăng"Long,"bà"Thủy"và"Long"Hưng"Phát"sẽ"ký"biên"bản"xác"nhận"

việc"chuyển"nghĩa"vụ"trả"nợ"này."

Trường"hợp"bà"Thủy"không"đồng"ý"cho"Thăng"Long"chuyển"nghĩa"vụ"trả"số"

nợ"(10.000.000.000"đồng)"và"lãi"phát"sinh"cho"Long"Hưng"Phát"thực"hiện"thì"Long"

Hưng"Phát"sẽ"ứng"trước"cho"Thăng"Long"một"khoản"tiền"đủ"để"Thăng"Long"hoàn"

trả"lại"cho"bà"Thủy"để"chấm"dứt"nghĩa"vụ"của"Thăng"Long"đối"với"bà"Thủy."Số"tiền"

ứng"trước"này"sẽ"được"cấn"trừ"vào"số"tiền"chuyển"nhượng"dự"án"nêu"tại"điều"3"…”.

Tại phiên tòa phía bà Thủy cho rằng, bà đồng ý chuyển nghĩa vụ trả nợ

này sang cho bị đơn nên bị đơn đã chuyển trả cho bà 5.000.000.000 đồng vào

ngày 15/11/2013; đồng thời bà cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi

kiện này của mình gồm các tài liệu: “Thỏa thuận chuyển nhượng dự án” số

139/TT-TL/2011 ngày 15/03/2011 giữa DNTN Thăng Long và công ty Long Hưng

Phát, “Biên bản bàn giao giám đốc” Phụ lục 3 – Tổng kết công nợ phải trả đến

15/11/2013, bảng sao kê tài khoản bà Thủy tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu

Việt Nam (từ bút lục 70 đến bút lục 75). Căn cứ các tài liệu này Hội đồng xét xử

thấy rằng:

Nguyên đơn không cung cấp được biên bản xác nhận việc chuyển nghĩa

vụ trả nợ giữa DNTN Thăng Long sang công ty Long Hưng Phát đối với khoản

nợ của bà Thủy; nhưng căn cứ “Biên bản bàn giao giám đốc” Phụ lục 3 – Tổng kết

công nợ phải trả đến 15/11/2013 do bị đơn lập cùng ngày 15/11/2013 (bút lục

97,98) cùng các bản sao kê tài khoản của bà Thủy tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập

khẩu Việt Nam (Eximbank) thể hiện: Ngoài số tiền 5.000.000.000 đồng bị đơn đã

chuyển cho bà Thủy, thì bị đơn tiếp tục chuyển thêm cho bà Thủy số tiền tổng cộng

là 400.000.000 đồng vào các ngày 21/4/2014, 06/02/2015 và 23/12/2015 (các bút

lục 71, 73, 74), với nội dung chuyển trả khi thì “công"nợ"cũ”, khi thì “chi"trả"tiền"

theo"biên"bản"bàn"giao"giám"đốc"ngày"15/11/2013"công"nợ"cũ”. Như vậy, trên thực

tế công ty Long Hưng Phát đã thực hiện việc chuyển tiền cho bà Thủy thay cho

DNTN Thăng Long như “Thỏa thuận chuyển nhượng dự án” các bên đã ký kết.

9

Tuy nhiên, phía bị đơn không thừa nhận việc chuyển nghĩa vụ này mà cho

rằng do bà Thủy không đồng ý chuyển nghĩa vụ trả nợ, nên các bên không ký văn bản thỏa thuận, số tiền mà bị đơn đã chuyển cho bà Thủy là tiền mà bị đơn ứng cho DNTN Thăng Long để DTNT Thăng Long hoàn trả cho bà Thủy.

Mặt khác, tại “Biên bản bàn giao giám đốc” Phụ lục 3 – Tổng kết công nợ

phải trả đến 15/11/2013 thì bên bàn giao là ông Nguyễn Tạ Phúc, bên nhận bàn giao là ông Phạm Xuân Hùng, ông Trần Xuân Nguyên cùng 02 người nữa tên Nghị và Tuấn (không ghi rõ họ và tên). Biên bản này không có con dấu của công ty Long Hưng Phát, không thể hiện việc những người bàn giao và nhận bàn giao có được người đại diện theo ủy quyền của công ty Long Hưng Phát ủy quyền hay không? Họ giữ chức vụ gì trong công ty Long Hưng Phát? Mục đích của việc bàn giao là gì?

Hơn nữa, ngoài những lần bị đơn chuyển tiền cho bà Thủy các ngày

21/4/2014, 06/02/2015 và 23/12/2015, thì bản sao kê tài khoản của bà Thủy tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) còn thể hiện bị đơn chuyển trả tiền cho bà Thủy như sau: Ngày 26/11/2015 (bút lục 72), chuyển 200.000.000 đồng, không ghi nội dung chuyển; ngày 05/02/2016 (bút lục số 70), chuyển 100.000.000 đồng, nội dung chuyển: “chi trả tiền theo biên bản bàn giao giám đốc ngày 15/11/2013 công nợ cũ Thăng Long chuyển qua”, nhưng chưa được xem xét.

Theo biên bản làm việc ngày 19/11/2015 giữa ông Vũ Anh Tuấn – đại diện

công ty TNHH Long Hưng Phát với bà Thủy (bút lục 58, 90), có nội dung: “+"Về" việc"chuyển"nhượng"nhà"đất"số"9"Phạm"Phú"Thứ:"hai"bên"đã"thanh"toán"đầy"đủ" công"nợ;"+"Về"việc"góp"vốn"tham"gia"dự"án:"đã"thanh"toán"đầy"đủ,"hai"bên"không" có"vướng"mắc"gì"với"nhau”. Phía bị đơn cung cấp văn bản này và cho rằng bị đơn không còn khoản nợ nào đối với bà Thủy, nhưng biên bản này không có con dấu của công ty Long Hưng Phát, không có tài liệu xác định ông Vũ Anh Tuấn là ai? Ông Tuấn có được người đại diện theo pháp luật của công ty Long Hưng Phát ủy quyền làm việc với bà Thủy hay không?

Với các phân tích trên thể hiện, có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa nguyên

đơn và phía bị đơn, mâu thuẫn giữa lời khai của các đương sự và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, cần phải đối chất để làm rõ; nhưng tại biên bản đối chất ngày 01/11/2017 (bút lục số 142), người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày là ông chưa nắm rõ nội dung vụ án, đề nghị được về làm việc với bị đơn và trình bày trong lần làm việc tiếp theo, nên việc đối chất vẫn chưa được tiến hành.

10

Ngoài ra, tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 02 (hai) khoản nợ,

khoản nợ thứ nhất là 5.000.000.000 đồng xuất phát từ việc chuyển nhượng dự án

giữa DNTN Thăng Long qua công ty Long Hưng Phát, khoản nợ thứ hai là nợ vay

do ông Đinh Tấn Kiệt (đại diện DNTN Thăng Long) vay của nguyên đơn – bà

Thủy 5.000.000.000 đồng vào năm 2010. Sau khi Tòa án tổ chức phiên họp công

khai chứng cứ ngày 01/11/2017, thì ngày 03/11/2017 nguyên đơn trình bày yêu cầu

mới về khoản nợ 4.700.000.000 đồng. Khoản nợ này theo nguyên đơn là do bà

Thủy vay giùm cho công ty Long Hưng Phát và bà đã chuyển cho bị đơn số tiền

này vào các ngày 03/6/2011 và 04/6/2011 (bút lục 79). Cấp sơ thẩm cho rằng, yêu

cầu 4.700.000.000 đồng của nguyên đơn phát sinh tại phiên tòa, nên tách ra giải

quyết trong vụ án khác là phù hợp. Nhưng khi tách yêu cầu 4.700.000.000 đồng,

cấp sơ thẩm không hỏi nguyên đơn có hay không còn giữ yêu cầu bị đơn trả

5.000.000.000 đồng xuất phát từ khoản nợ của ông Đinh Tấn Kiệt như trình bày tại

đơn khởi kiện? Nếu nguyên đơn còn giữ yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét, nếu rút thì

phải đình chỉ giải quyết, nhưng bản án sơ thẩm không giải quyết yêu cầu này của

nguyên đơn là thiếu sót như trình bày trong đơn kháng cáo của bị đơn.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn đề nghị đưa DNTN Thăng

Long vào tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là một tình tiết mới,

cùng với những phân tích nói trên cần thiết phải triệu tập DNTN Thăng Long vào

tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để

tiến hành đối chất giữa các đương sự nhằm làm rõ các nội dung: Có hay không việc

chuyển nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà Thủy từ DNTN thăng Long sang công ty

Long Hưng Phát? Số tiền mà bị đơn chuyển cho bà Thủy là tiền gì? Tổng số tiền đã

chuyển và việc chuyển tiền các ngày 26/11/2015, 05/02/2016 có nằm trong khoản

nợ này hay không? Những nội dung này, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được tại

giai đoạn phúc thẩm. Để đảm bảo cho việc giải quyết toàn diện vụ án, đảm bảo

quyền lợi của các bên đương sự, cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về

Tòa án án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục

sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn về

việc đề nghị đưa DNTN Thăng Long vào tham gia tố tụng trong vụ án, do hủy

án sơ thẩm nên không xem xét về nội dung. Đối với ý kiến phát biểu của đại

diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là

có căn cứ, nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn kháng

cáo không phải nộp. Hoàn trả cho bị đơn số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là

300.000 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

11

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn – Công ty TNHH Long

Hưng Phát (ủy quyền cho ông Huỳnh Kim Ngân đại diện).

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2018

của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án “Tranh chấp đòi tài sản”, giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bích Thủy và bị đơn là Công ty TNHH Long Hưng Phát; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp. Hoàn trả cho

Công ty TNHH Long Hưng Phát số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà Công ty TNHH Long Hưng Phát đã nộp (do ông Nguyễn Thái Hùng nộp thay) theo biên lai thu số AA/2017/0007627 ngày 19/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ